HÀNH KHÚC TRƯỜNG TRẦN QUÝ CÁP HỘI AN
Trăm năm cô đơn

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 23h:15' 20-11-2024
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 23h:15' 20-11-2024
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
TRĂM NĂM CÔ ĐƠN
Tên tiếng Tây ban nha: Cien años de soledad
Tác giả : Gabriel Garcia Márquez
Dịch giả : Nguyễn Trung Đức
Thể loại : Văn học nước ngoài
Nhà xuất bản : Văn Học
Năm xuất bản : 2003
Số trang : 484
Kích thước : 13 x 19 cm
Trọng lượng : 530 g
Số quyển / 1 bộ : 1
Hình thức bìa : Bìa cứng
Giá bìa : 55.000 VNĐ
Nguồn : vnthuquan
–––––––––––Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
LỜI GIỚI THIỆU
Tiểu thuyết đạt giải Nobel văn học năm 1982
Nhà văn Gabriel García Márquez
Cho đến nay Trăm năm cô đơn vẫn là cuốn tiểu thuyết lớn nhất của
Gabriel García Márquez (1928), nhà văn Colombia, người được giải Nobel
về văn học năm 1982. Trăm năm cô đơn ra đời (1967) đã gây dư luận sôi nổi
trên văn đàn Mỹ Latinh và lập tức được cả thế giới hâm mộ. Theo số liệu của
tác giả đến năm 1970, Trăm năm cô đơn đã được in bằng tiếng Tây Ban Nha
hơn nửa triệu bản, chưa kể lần in ở Cuba xã hội chủ nghĩa (một lần hai vạn
bản, lần sau tám vạn bản) và mười bảy hợp đồng xin phép tác giả được dịch
tác phẩm này ra các thứ tiếng khác. Sau gần hai mươi năm, Trăm năm cô
đơn đã có mặt ở khắp nơi trên hành tinh chúng ta để đến với mọi người và
mọi nhà. Rõ ràng Trăm năm cô đơn là một cuốn sách ăn khách mặc dù tác
giả của nó không viết với mục đích câu khách.
Cốt truyện và đề tài
Trăm năm cô đơn là câu chuyện về dòng họ Buendía tồn tại bảy thế hệ,
người đầu tiên bị trói vào gốc cây và người cuối cùng đang bị kiến ăn, một
dòng họ tự lưu đày vào cõi cô đơn để chạy trốn tội loạn luân. Cái tội loạn
luân này khởi sự từ việc tên cướp biển Francis Drake tấn công Riohacha
khiến các cụ tổ của Úrsula Iguarán phải chuyển đến lập nghiệp ở một làng
hẻo lánh. Tại đây các cụ tổ của José Arcadio Buendía đã lập nghiệp bằng
nghề trồng thuốc lá. Qua ba thế kỷ, hai dòng họ này đã có quan hệ thâm
giao, cháu chắt họ lấy lẫn nhau dẫn tới thảm họa đẻ ra một người đàn ông có
đuôi lợn. Chính cái gương tày liếp này đã khiến cha mẹ José Arcadio
Buendía và Úrsula Iguarán tìm mọi cách ngăn cản nhưng họ vẫn cứ lấy nhau.
Khi đã là vợ chồng rồi và dẫu José Arcadio Buendía tuyên bố “dù có đẻ ra
kỳ đà anh cũng cóc cần”. Úrsula Iguarán vẫn sợ đẻ ra đứa con có đuôi lợn,
nên khi đi ngủ bao giờ cô cũng mặc chiếc quần trinh tiết do mẹ may cho. Sự
việc kéo dài hơn một năm khiến dân làng ngạc nhiên và đồn rằng anh chồng
là kẻ bất lực. Một hôm, bị thua José Arcadio Buendía trong một cuộc chọi
gà, Prudencio Aguilar không kìm được lòng đã lỡm bạn: “Tao mừng cho
mày và để xem cái con gà này có làm phúc cho vợ mày không”. Vì lời nói
lỡm ấy anh ta phải trả cả tính mạng. Nhưng không vì thế, người chiến thắng
được sống thanh thản, trái lại lúc nào cũng bị lương tâm dằn vặt đến mức
phải bỏ làng tìm đền một miền đất không được hứa trước để lập ra làng
Macondo, để tự lưu đày trong cõi cô đơn trăm năm. Rồi trong cõi cô đơn ấy,
những José Arcadio và những Aureliano, những Remedios và những
Amaranta đã ra đời, sống cuộc đời với số phận bi đát dường như đã được
định trước: lay lắt trong nỗi cô đơn và hoài nhớ, thấp thỏm lo phạm tội loạn
luân.
Nhưng lo cũng chẳng được. Lúc còn đang thời sinh nở, sau mỗi lần đẻ
Úrsula Iguarán đều cặn kẽ xem con mình có mang bộ phận nào của con vật
không. Về già, cụ luôn luôn nhắc nhở đám cháu con hãy mở to mắt để nhận
mặt họ hàng, đừng chung đụng xác thịt mà sinh con có đuôi lợn. Nhưng cụ
không thể sống đến hết chuyện để khuyên giải Amaranta Úrsula và
Aureliano Babilonia. Vì không biết rõ gốc gác, không nắm được quan hệ
ruột thịt, Amaranta Úrsula và Aureliano Babilonia đã yêu nhau mãnh liệt, ăn
nằm với nhau và lấy nhau với hy vọng tình yêu sẽ cải tạo nòi giống mình.
Nhưng họ đã đẻ ra đứa con quái thai có đuôi lợn và con vật huyền thoại này
đã kết liễu dòng họ Buendía tồn tại bảy thế hệ. Rõ ràng trong thế giới cô đơn
và hoài nhớ ấy, những người trong dòng họ Buendía đã phạm tội loạn luân
dù cho họ cô ý chạy trốn tội loạn luân. Như vậy chúng ta thấy trong Trăm
năm cô đơn, loạn luân là một đề tài đã mở và đóng lại một thiên truyện.
Nhưng sự ra đời và tồn tại của dòng họ Buendía lại gắn rất chặt với số phận
của làng Macondo. Lúc đầu Macondo là một làng quê hiền hòa. Tại đây
chưa một ai đã ngoài ba mươi tuổi. Macondo chưa có nghĩa địa, dân trí
Macondo chưa được khai sáng. Ðứng đầu làng là José Arcadio Buendía, một
tộc trưởng. Ông chăn dắt dân Macondo theo lề thói của công xã nông thôn.
Dân Macondo sống hiền lành, không phạm tội giết người nên không cần có
quan cai trị (phần đời) và cha cố (phần hồn). Mặc dù sống biệt lập với thế
giới bên ngoài, dân Macondo đã biết làm cho làng mình trở thành một làng
quê trù mật và yên vui. Người Digan, theo tiếng chim hót và tiếng nhạc đồng
hồ, đã tìm được đường đến với Macondo. Họ mang tới đây biết bao thứ mới
lạ mà dân Macondo chưa hề biết tới. Họ mang tới làng nghề thủ công và
nghề buôn bán. Họ lập ra phố Thổ Nhĩ Kỳ. Macondo từ một làng quê trở
thành một thị trấn. Chính phủ trung ương phái tới làng một Quan thanh tra.
Ðó là ông Apolinar Moscote. Sự có mặt của Quan thanh tra đã làm cho cuộc
sống vốn thanh bình của Macondo bỗng trở nên bị xáo trộn. Cuộc nội chiến
triền miên và khốc liệt giữa hai phái Bảo hoàng và Tự do đã nhiều phen tàn
phá Macondo, làm cho dân chúng phải nhiều phen điêu đứng. Tương ứng
với thời kỳ này của Macondo là sự trưởng thành của thế hệ thứ hai dòng họ
Buendía mà người tiêu biểu là đại tá Aureliano Buendía. Ngài đã phát động
ba mươi hai cuộc chiến và ngài phải chịu thất bại hoàn toàn, buộc phải kí
hiệp định đình chiến Neerlandia mà thực chất của bản hiệp định này là sự
đầu hàng của lực lượng Tự do trước lực lượng Bảo hoàng.
Nhờ có đường xe lửa, Macondo thực sự giao lưu với thế giới bên ngoài.
Phim ảnh, máy phát điện, máy hát, gái điếm, khách du lịch đã tràn ngập
Macondo. Công ty chuối (thực chất là Công ty hoa quả Mỹ) cũng đến đây và
lập đồn điền chuối. Dân tứ xứ đổ về Macondo. Cuộc sống Macondo sầm uất
lên. Giai đoạn này của Macondo tương ứng với thế hệ thứ tư dòng họ
Buendía mà người tiêu biểu là hai anh em sinh đôi: Aureliano Segundo và
José Arcadio Segundo. Aureliano Segundo to khỏe đầy sinh lực, sôi nổi sống
hết mình trong cõi đời thế tục. Ngược lại José Arcadio Segundo vóc người
mảnh khảnh nhưng rất thông minh, đã tham gia lãnh đạo cuộc đấu tranh của
công nhân chuối đòi cải thiện sinh hoạt và tăng lương. Người Mỹ, ở đây là
ngài Trao, rất xảo quyệt và tráo trơ tìm mọi cách thoái thác những yêu cầu
chính đáng của công nhân. Khi cuộc đấu tranh lên đến cao trào, người Mỹ đã
thẳng tay tắm máu công nhân bằng một vụ thảm sát tất cả những ai có mặt ở
sân ga và sau đó dùng đoàn tàu dài hơn hai trăm toa chở xác chết ném xuống
biển như Công ty chuối vẫn đổ chuối thối. Công ty chuối rút khỏi Macondo.
Bằng phép màu, Công ty chuối đã dìm chết Macondo trong một trận mưa lụt
kéo dài bốn năm mười một tháng hai ngày và sau đó lại rang khô nó trong
nạn hạn hán kéo dài mười một năm. Macondo tiêu điều xơ xác. Cỏ dại, sâu
bọ sinh sôi nảy nở nhanh chóng và hung hãn tiến công con người ngày một
quyết liệt hơn để đến một ngày kia một trận cuồng phong nổi lên xóa
Macondo khỏi mặt đất này.
Kết cấu và thời gian nghệ thuật
Khi đọc đến Aureliano Babilonia giải được mã của Melquíades viết trên
những tấm da thuộc, chúng ta nhận thấy Trăm năm cô đơn là chuyện về
dòng họ Buendía được viết tỉ mỉ đến từng chi tiết theo phương thức thời gian
đồng hiện với một kết cấu phức tạp và chặt chẽ. Viết được như vậy chính là
vì García Márquez đã khởi công viết cuốn sách này từ năm 1950. Khi ấy,
ông mới mười bảy tuổi làm một nhà báo tập sự, từng có một ít truyện ngắn
đăng trên các báo chí địa phương. Sống trên gác xép một tòa nhà bốn tầng,
nhiều bữa phải ăn cơm của các cô gái điếm nghèo cùng trọ trong ngôi nhà
ấy, García Márquez viết cuốn tiểu thuyết nhan đề Ngôi nhà (La Casa) bao
gồm những chuyện về ngôi nhà có ma, ngôi nhà của chính ông bà ngoại
mình. Ðây là câu chuyện ông biết được qua miệng người bà ngoại có biệt tài
kể chuyện. Và đây cũng là cuộc nội chiến giữa phái Bảo hoàng và phái Tự
do qua miệng người ông ngoại, một cựu chiến binh của phái Tự do. Những
chuyện này gắn bó với tuổi ấu thơ của nhà văn. Ông phải bỏ dở cuốn sách,
có lẽ vì ông còn quá trẻ. Sau đó chúng ta thấy ông lần lượt cho ra mắt bạn
đọc những tác phẩm như. Ðôi mắt chó xanh (tập truyện, 1955), Lá rụng (tiểu
thuyết, 1955), Ngài đại tá chờ thư (truyện, 1957), Giờ xấu (tiểu thuyết,
1962) và Ðám tang của bà Mẹ vĩ đại (tập truyện, 1962). Chúng ta thấy
những nhân vật này có mặt nhiều lần trong các tác phẩm trên và chúng có
liên quan với nhau vì chúng đều ở làng Macondo hoặc có dịp qua lại làng
Macondo. Hơn thế nữa, chúng ta thấy nhiều nhân vật đó lại có mặt trong
Trăm năm cô đơn. Như vậy, ta có thể nói rằng qua các trang này, García
Márquez đã rèn luyện, thử thách ngòi bút mình, đã tìm ra được cái giọng
điệu độc đáo của mình trước khi bước vào viết cuốn sách ông từng ấp ủ
nhiều năm, đó là Trăm năm cô đơn. Ông thuộc lòng câu chuyện đến mức có
thể kể ngược rồi kể xuôi cho các bạn mình nghe. Vào một ngày tốt lành năm
1965, ông bảo Mercedes Barcha, vợ ông, rằng: “Từ nay em lo chuyện nhà
cửa để anh chuyên viết sách”. Ông dành mười tám tháng, ngày nào cũng như
ngày nào, sáng bắt đầu từ tám giờ, chiều kết thúc vào lúc ba giờ, cặm cụi
viết. Khi viết được hai trăm trang, ông đọc tiểu thuyết Thế kỷ ánh sáng của
nhà văn Alejo Carpentier. Vì nhận thấy lời văn cuốn sách mình đang viết na
ná giống lời văn của Thế kỷ ánh sáng, ông xé bỏ bản thảo, bắt đầu viết lại từ
đầu. Cuốn sách được phát hành, đã gây dư luận sôi nổi trên văn đàn Mỹ
Latinh. Thành công ấy hoàn toàn không bất ngờ đối với García Márquez vì
khi rời ghế nhà trường ông mang hai niềm tin lớn: chủ nghĩa xã hội và những
cuốn tiểu thuyết hay, vì trách nhiệm của người cầm bút là phải viết cho thật
hay. Trăm năm cô đơn là một trong những cuốn tiểu thuyết ông mơ ước và
đã phấn đấu để có được.
Khi đọc xong Trăm năm cô đơn chúng ta thấy ở cuốn sách này có hai
văn bản. Văn bản một là cái văn bản chúng ta đọc hết dòng này sang dòng
khác chạy suốt từ đầu đến cuối sách. Văn bản hai là văn bản được
Melquíades viết trên những tấm da thuộc. Văn bản hai làm nền cho văn bản
một. Tương ứng với hai văn bản trên có hai người kể chuyện. Một là người
kể chuyện ở văn bản một, chúng tôi gọi là người kể chuyện thứ nhất, và
người kia là Melquíades kể chuyện ở văn bản hai, chúng tôi gọi là người kể
chuyện thứ hai. Sau khi đã thuộc lòng câu chuyện về dòng họ Buendía do
người kể chuyện thứ hai ghi trên những tấm da thuộc, người kể chuyện thứ
nhất, với tư cách nhà thông thái, người hiểu biết tất cả, theo sở thích của
mình kể lại cho chúng ta nghe chính những câu chuyện ấy. Rồi trong khi kể
cho chúng ta nghe, người kể chuyện thứ nhất đã vận dụng kết cấu sự kiện để
làm nổi bật tính cách một nhân vật hoặc bản chất một sự kiện bằng cách hội
tụ các sự kiện, các tình tiết theo thứ tự biên niên sử. Tương ứng với hai
người kể chuyện, trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn có hai thời gian sau
đây:
a) Thời gian của người kể chuyện thứ nhất tương ứng với văn bản một,
bắt đầu với việc giới thiệu một nhân vật, rồi đến thế kỷ, sau đó lại tiếp nối
cùng với việc kể tiếp về nhân vật ấy. Thời gian của người kể chuyện thứ nhất
dường như lấp kín mọi khoảng không gian trong đó nhân vật tồn tại và nó
cho ta cảm quan về toàn bộ cuộc đời nhân vật ấy. Ví dụ: kể về cuộc đời đại
tá Aureliano Buendía, cuốn sách mở đầu: “Rất nhiều năm sau này, trước đội
hành hình, đại tá Aureliano Buendía đã nhớ lại buổi chiều xa xưa ấy, cái
buổi chiều cha chàng dẫn chàng đi xem nước đá”. Trong sách cái thời điểm
Aureliano Buendía sắp bị hành quyết nằm ở chương thứ bảy. Sự kiện cha
chàng dẫn chàng đi xem nước đá lại được kể ngay từ chương thứ nhất. Như
vậy là trong suốt bảy chương đầu cuốn sách, tác giả nói về cuộc đời niên
thiếu, trưởng thành cho đến khi đi trận của đại tá Aureliano. Tiếp đó thời
gian của người kể chuyện thứ nhất mới vận động tiếp để kể cho chúng ta biết
về những hành động, những thất bại chua cay sau này của đại tá Aureliano.
Cuộc đời các nhân vật khác như Aureliano Segundo và Aureliano Babilonia
cũng được trình bày tương tự. Như vậy, thời gian của người kể chuyện thứ
nhất là thời gian tâm lý gắn với quá trình nhớ lại, quá trình hồi tưởng.
b) Thời gian của người kể chuyện thứ hai gắn với văn bản hai. Thời gian
này là thời gian dòng họ Buendía ra đời, thịnh đạt và tuyệt diệt. Nhưng vì
dòng họ này là một dòng họ đã được khẳng định, không phát triển tới một
tương lai nào nên thời gian của người kể chuyện thứ hai chuyển động vòng
tròn. Thời gian của người kể chuyện thứ hai là thời gian cốt truyện mang tính
biên niên sử, nó là thời gian thực tại, tồn tại độc lập với ý thức của người kể
chuyện thứ nhất.
Trong Trăm năm cô đơn chúng ta thấy hai loại thời gian này đan bện lấy
nhau, hòa quyện vào nhau, trong đó thời gian của người kể chuyện thứ hai,
thời gian thực tại, giữ vai trò then chốt, tạo thành thời gian nghệ thuật của tác
phẩm, phản ánh được đặc trưng trì động, chậm phát triển cua Mỹ Latinh:
“Xét về mặt hình thức mà nói thời gian của sự chậm phát triển thường vận
động theo chu kỳ khép kín và về mặt kỹ thuật mà nói nó thường bị chia vụn
thành các khoảnh khắc. Nó có tính chất vận động theo chu kỳ khép kín, là vì
cái quá trình lịch sử không bao giờ được kết thúc. Khởi nghĩa không bao giờ
có tác động đẩy sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc đi tới nền độc lập
thật sự. Ðất nước không bao giờ đi tới độc lập thực sự. Cá nhân không bao
giờ đi tới sự tự ý thức hoàn toàn. Tất cả đều thay đổi đều chuyển hóa nhưng
tất cả đều giẫm chân tại chỗ”[1].Thời gian đa chiều, thời gian nghệ thuật của
Trăm năm cô đơn là một thành tựu của García Márquez. Nhưng thời gian
nghệ thuật của tác phẩm chỉ đạt hiệu quả nghệ thuật cao khi García Márquez
tạo ra được một Macondo, sản phẩm tuyệt vời của hư cấu nghệ thuật. Chúng
ta có thể dễ dàng nhận ra Aracataca là nguyên mẫu của Macondo vì trong tác
phẩm, nhất là phần cuối, chúng ta có thể nhận ra những người thật việc thật
của Aracataca, quê hương của tác giả. Ví dụ theo Germán Vargas, nhà phê
bình văn học Colombia, bạn thân của García Márquez, thì cụ già bán sách cổ
người Catalunya chính là cụ Ramón Jiménez. Bốn người bạn trẻ chơi thân
với nhau chính là tác giả (vai Gabriel) và các bạn của ông như Álvaro chính
là nhà văn Álvaro Cepeda Samudio, Vargas chính là nhà phê bình văn học
Germán Vargas và Alfonso chính là họa sĩ Alfonso Fuenmayor. Dù có thế đi
nữa Macondo vẫn không phải là Aracataca mà ngược lại Macondo là bất kì
một thành phố nào của Colombia nói riêng, của Mỹ Latinh nói chung.
Macondo là một địa danh hư cấu đủ sức dung nạp mọi chuyện, từ chuyện có
thực đến chuyện tưởng tượng - dù tưởng tượng theo nguyên tắc hư cấu nghệ
thuật hay tưởng tượng theo nguyên tắc huyền thoại. Nhờ vậy, thực tại đời
sống ùa vào tác phẩm một cách phong phú, đa dạng, không chỉ cái có thực
mà còn có cả cái không có thực theo những cấp độ sau đây:
1. Cái có thực vốn là những sự kiện lịch sử từng xảy ra ở Colombia và
Mỹ Latinh được tác giả tái hiện chính xác tới từng chi tiết. Ðó là cuộc nội
chiến triền miên và khốc liệt giữa phái Bảo hoàng và phái Tự do. Sĩ quan hai
phái ban ngày đánh nhau kịch liệt, ban đêm làm bạn cờ bạc. Trong Trăm
năm cô đơn, điều đó được phản ảnh trong quan hệ bạn bè giữa đại tá
Aureliano và tướng Raquel Moncada.
2. Cái có thực vốn là cái lạc hậu, cổ hủ của Mỹ Latinh được tác giả tái
hiện trong tác phẩm theo phương pháp phúng dụ. Chính nhờ thế, giọng điệu
hài hước đã nổi đậm trong Trăm năm cô đơn. Ví dụ: đá nam châm, kính lúp,
thước đo góc, la bàn, nước đá (ở phần đầu), máy hát, máy nổ, phim ảnh, xe
lửa (ở phần cuối). Ðó là những công cụ từng được sáng chế và sử dụng phổ
biến trên thế giới nhưng vẫn là những thứ tân kì đối với dân chúng Macondo.
3. Cái có thực mang tính chất kì diệu được tác giả đưa vào tác phẩm. Ðó
là khả năng ngoại cảm tuyệt vời của đại tá Aureliano Buendía. Ðó là sự đồng
cảm tuyệt đối giữa hai chú bé sinh đôi khi người này uống nước chanh thì
người kia, mặc dù không uống, vẫn cứ nói đúng trăm phần trăm là nước
chanh không pha đường.
4. Cái có thực được nhà văn tưởng tượng theo nguyên tắc huyền thoại
hóa đẩy nó tới mức phi thường hoặc quái dị. Ðó là trường hợp Remedios Người đẹp là một cô hầu người Anh-điêng. Cô ta vốn không đẹp. Cô ta vô
cớ bỏ nhà chủ và chủ nhà không hay biết cô ta bỏ đi lúc nào và đi đâu. Trong
Trăm năm cô đơn, cái cô người ở ấy đã trở thành người trong gia đình, người
đẹp và cô ta đã bay lên trời vì cô ta là hiện thực là cái đẹp không thuộc cõi
thế tục này. Ngược lại với trường hợp cô gái là vụ thảm sát hơn ba ngàn
người là chuyện có thực từng xảy ra ở Colombia vào cuối những năm hai
mươi thế kỉ này, nhưng đã được García Márquez huyền thoại hóa theo
hướng quái dị để bộc lộ bản chất xấu xa, đê tiện, tàn nhẫn của tư bản Mỹ.
5. Cái không có thực do nhà văn căn cứ vào cảm quan của mình trước
thực tại xã hội mà tưởng tượng ra rồi đưa vào tác phẩm theo nguyên tắc
huyền thoại hóa. Mưa hoa trong đám tang của José Arcadio Buendía là cảm
quan xót thương của tác giả trước một con người đầy nghị lực, đầy thông
minh, luôn đam mê hiểu biết. Trận mưa lụt là cảm quan của tác giả trước
thực tại trì động đã đến ngày tận thế của xã hội Mỹ Latinh. Cái đuôi con lợn
của thằng bé cuối cùng trong dòng họ Buendía là cảm quan của tác giả về
loại người chưa thành người hoặc đã bị hạ cấp dưới mức người.
Nhân vật và thông điệp
Thành công của García Márquez trong việc tạo ra một không gian và thời
gian nghệ thuật như trên đã mở ra một khả năng to lớn trong việc xây dựng
các nhân vật có cá tính. Chúng ta dễ dàng nhận ra những nhân vật trong
Trăm năm cô đơn là những nhân vật siêu mẫu, tức là những con người phi
thường, dị hợm và quái dị. Nhờ tính chất siêu mẫu này, các nhân vật trong
Trăm năm cô đơn đã gây hào hứng cho độc giả để rồi mãi mãi đọng lại trong
tâm trí bạn đọc. Quả vậy, trong Trăm năm cô đơn có khoảng sáu mươi nhân
vật, kẻ cả chính lẫn phụ. Nhân vật nào cũng có cá tính rất sông động trước
mắt chúng ta. Thành công này có được là nhờ García Márquez đã vận dụng
và nâng cao thủ pháp xây dựng nhân vật của truyện kể dân gian: chỉ chấm
phá đôi nét còn nhường chỗ cho trí tưởng tượng của người đọc người nghe.
Tùy từng nhân vật cụ thể, ông thấy cần nhấn mạnh nét cá tính nào thì ông tập
trung miêu tả những biểu hiện của cá tính ấy. Cần phải làm nổi bật tư chất
thị dân của Pietro Crespi thì ông miêu tả và chỉ miêu tả cái bàn tay có nước
da mai mái xanh của anh ta. Cần làm nổi bật trái tim yêu rạo rực của Pilar
Ternera, García Márquez luôn nhấn mạnh đến cái mùi khen khét phả ra từ
nách ả, đến cái tiếng cười khanh khách của ông như tiếng gù cù cù rục của
con bồ câu. Cần làm nổi bật tư chất rầu rĩ của đại tá Aureliano Buendía ông
nhấn mạnh tiếng khóc từ trong bụng mẹ của đại tá. Cần làm nổi bật tư chất
trác táng, đam mê rượu chè và hội hè của Aureliano Segundo ông nhắc đi
nhắc lại nhiều lần cái câu nói đầy khẩu khí của anh ta: “Hỡi những con bò
cái hãy dạng háng ra kẻo cuộc đời ngắn ngủi lắm” v.v… và v.v…
Như vậy chúng ta thấy mỗi nhân vật được khu biệt hóa với các nhân vật
khác bởi chỉ một hoặc vài ba điểm. Trong nhiều trường hợp, những đặc điểm
này được phóng đại đến mức quái dị như những chiếc mặt nạ. Và do đó nhân
vật trở thành siêu mẫu gây ấn tượng sâu sắc trong người đọc. Chúng ta
không thể quên được Babilonia, anh thợ cơ khí của Công ty chuối với đàn
bướm vàng, không thể quên được Remedios Người đẹp với luồng khí độc có
hiệu quả trong việc làm chết những kẻ đam mê cô do không biết cách chứng
tỏ tình yêu của mình không thể quên được Melquíades với chiếc mũ cánh
quạ không thể quên được Petra Cotes mà tình dục của cô ta có ảnh hưởng
quyết định đến tính mắn đẻ của gia súc không thể quên được Rebeca, cô gái
nặng hoài nhờ ăn đất, v.v… và v.v… Nhờ thủ pháp này García Márquez
giúp chúng ta phân biệt những nhân vật cùng tên trong gia đình Buendía vốn
[2]
có thói quen lấy tên cha mẹ đặt cho con. Chúng ta dễ dàng nhớ và phân
biệt José Arcadio Buendía, người sáng lập ra làng Macondo với José Arcadio
kẻ đi vòng quanh thế giới, với Arcadio José tên bạo ngược, với José Arcadio
Segundo kẻ trầm tư lánh đời và José Arcadio kẻ đi tu không đắc đạo. Chúng
ta nhớ và phân biệt ngài đại tá Aureliano Buendía, người phát động ba mươi
hai cuộc chiến, với Aureliano Segundo kẻ trác táng, với Aureliano Babilonia
người thông minh chịu học đã đọc được văn bản tiếng Phạn do Melquíades
viết trên những tấm da thuộc và với Aureliano kẻ bị kiến tha. Dĩ nhiên ngoài
những đặc điểm bên ngoài làm nổi bật tính cách nhân vật, những José
Arcadio và những Aureliano còn được định vị bởi chức vụ nghề nghiệp và
thế hệ. Nhưng nếu chúng không được đặc điểm hóa bằng những cá tính khác
thường và dị thường, chúng ta sẽ dễ dàng nhầm lẫn bởi chúng giống nhau.
Khi còn bé bao giờ họ cũng ngoan ngoãn, đôi khi nhút nhát, hay nghịch
ngợm. Ðiển hình cho sự giống nhau này là trường hợp hai cậu bé sinh đôi
Nhưng càng lớn họ càng khác nhau. Những Aureliano có trí thông minh
tuyệt vời nhưng lại mắc chứng trầm tư, ủ dột và chán đời. Trong khi đó
những José Arcadio bao giờ cũng khỏe mạnh, táo gan và sống chan hòa. Hai
tuyên nhân vật này có lúc hoán vị tư chất cho nhau. Ðó là trường hợp hai anh
em sinh đôi: José Arcadio và Aureliano Segundo. Những đặc tính giống
nhau này là yếu tố di truyền của ông tổ José Arcadio Buendía. Ở ông tổ này,
chúng ta thấy vừa có sức mạnh cơ bắp vừa có sức mạnh trí tuệ vừa manh
động táo bạo, bốc đồng vừa có ý chí mạnh mẽ và kiên quyết. nhưng đức tính
ấy được di truyền lại cho đám cháu con theo hai nhánh: những José Arcadio
và những Aureliano. Cái ông tổ này còn di truyền lại cho đám cháu con cả
nỗi cô đơn hoài nhớ do lương tri bị dằn vặt trước cái chết của Anxiô Agliđa.
[3]
Tuy là những người khỏe mạnh, thông minh, có ý chí và nghị lực phi
thường, nhưng những José và những Aureliano bao giờ cũng thất bại, cũng
phải sống trong cảnh cô đơn. Chính sự giống nhau này đã gây cho Úrsula
Iguarán luôn luôn có cảm giác thời gian quay tròn vì bà lão cứ nhận thấy các
thế hệ sau giống hệt thế hệ trước. Khi về già, bà lão luôn luôn nhầm lẫn José
Arcadio Segundo và Aureliano Babilonia mà với ngài đại tá Aureliano
Buendía, con trai bà. Pilar Ternera cũng nêu ra những nét tương đồng giữa
các thế hệ trong dòng họ Buendía. Hiển nhiên, chúng ta thấy rằng cái sự lặp
lại ấy có được là do thời gian của người kể chuyện thứ hai chuyển động theo
một đường tròn khép kín. Cái vòng tròn lớn nhất là cái vòng tròn dòng họ
Buendía chạy trốn tội loạn luân - đi lập làng mới - phạm tội loạn luân và bị
tuyệt diệt. Trong cái dòng tròn lớn này có các vòng tròn nhỏ, những mảnh
vụn của thời gian, trong đó bảy thế hệ dòng họ Buendía tồn tại. Mỗi vòng
tròn là một cuộc đời nhân vật. Tiêu biểu cho những vòng tròn ấy là vòng tròn
- cuộc đời của đại tá Aureliano Buendía khi còn trẻ sản xuất những con cá
vàng đi chiến trận về già lại sản xuất những con cá vàng, là vòng tròn - cuộc
đời của hai anh em sinh đôi Aureliano Segundo và José Arcadio Segundo:
lúc thiếu thời giống nhau như hình với bóng lớn lên, một người béo phì, sôi
nổi dấn thân vào cuộc đời thế tục, người kia gầy cao, trầm tư và lánh đời đến khi chết lại giống nhau như đúc. Những vòng tròn nhỏ này, những mảnh
vụn thời gian này, đánh dấu những cố gắng của các thế hệ trong dòng họ
Buendía muốn thoát khỏi cái cô đơn. Nhưng những cố gắng ấy thảy đều vô
ích, thảy đều thất bại. Nguyên nhân tự đâu? Trước hết chúng ta thấy trong
Trăm năm cô đơn những nhân vật trong dòng họ Buendía ngày càng tách
mình khỏi cộng đồng xã hội và trong quá trình hiện hữu, họ ngày một trở
thành những người sống trái tính trái nết. Và cái thói sống trái tính trái nết
này đến lượt nó lại đào sâu thêm cái hố ngăn cách họ với cộng đồng xã hội.
Bản thân hành động bỏ làng cũ đi lập làng mới (Macondo) của José Arcadio
Buendía là bước đầu tiên dòng họ này tự tách mình khỏi cộng đồng xã hội,
khỏi lịch sử và truyền thông văn hóa. Rồi ở làng Macondo, vì thèm khát
những tiến bộ khoa học ở bên ngoài, José Arcadio Buendía say sưa và bồng
bột lao vào những tìm kiếm khoa học. Ông tự giam mình trong phòng thí
nghiệm, và công việc tìm kiêm những phát kiến đã ngày càng đưa ông tới bờ
vực của sự thất bại. Ông trở thành một kẻ điên dại và bị trói vào gốc cây dẻ.
Đến người chắt José Arcadio Segundo, cái chân lý duy nhất mà anh ta muốn
chứng minh cho mọi người biết: vụ thảm sát rùng rợn những người lao động
ở sân ga thành phố là có thật, đã không thể nào đến với quần chúng. Nguyên
nhân của thất bại trên là do anh ta quá hoảng sợ nên chạy trốn vào phòng
Melquíades, tự giam mình trong đó, không chịu tiếp xúc, không chịu đối
thoại với bất kì ai ngoại trừ người anh em sinh đôi và thằng cháu họ. Tự tách
mình khỏi cộng đồng xã hội, sống cuộc sống dị thường còn là nguy cơ dẫn
cá nhân đến cuộc sống độc đoán chuyên quyền. Khi cá nhân đã có quyền
hành trong tay sẽ trở thành tên độc tài, tên bạo chúa khát máu hơn cả bạo
chúa thời Trung cổ. Từ khi nhỏ đến khi đi trận, bị bắt làm tù binh, bị án tử
hình, Aureliano Buendía là một nhân vật đáng yêu, thậm chí rất đáng yêu.
Ấy là lúc anh ta còn gắn với đời thường, còn biết xuất phát từ thực tiễn mà
hành động và suy nghĩ. Anh ta là một chàng thanh niên vừa thông minh, vừa
dũng cảm. Nhưng khi trở thành một tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang vùng
duyên hải, anh ta đã tự tách cá nhân mình khỏi đồng đội khỏi cộng đồng xã
hội thậm chí còn đối lập với đồng đội, với xã hội bằng chính đội quân cấm
vệ đông đúc, và cái vòng phấn trắng mà anh ta ngồi ở chính giữa để ban phát
các mệnh lệnh và lề luật, để chơi trò chơi chiến tranh. Anh ta chiến đấu
không vì một lý tưởng nào, ngay cả đảng Tự do của mình. Anh ta chiến đấu
cho bản thân mình, cho niềm kiêu hãnh của cá nhân mình. Với phương châm
xử thế. “Người bạn tốt nhất là người bạn vừa chết”, anh ta sẵn sàng cho tay
chân hoặc nhân danh cách mạng giết những người bạn tốt của mình một khi
người bạn ấy đe dọa vị trí của anh ta ví dụ việc giết thủ lĩnh những người da
đỏ Teófilo Vargas. Bất kể tình bạn keo sơn với đại tá Gerineldo Márquez,
anh ta sẵn sàng kết tội tử hình người bạn mình. Anh ta không bạn. Anh ta cô
đơn và càng cô đơn hơn nữa khi mà những người bạn cùng chiến hào tư
tưởng những người thuộc đảng Tự do, quay lưng lại với anh ta, không chịu
ra thông cáo bác bỏ những luận điệu của phái Bảo hoàng vu anh ta là một tên
cướp: Rồi cũng vì niềm kiêu hãnh của cá nhân mình, vì danh tiếng của con
người mình anh ta kí hiệp định đình chiến Neerlandia mà thực chất của nó là
sự đầu hàng, là cú mua bán cuối cùng nhằm đem lại vinh quang cho bản thân
anh ta và chính cái vinh quang này, tức là cái huân chương công huân mà
Tổng thống nước Cộng hòa tặng, anh ta cũng phải đổi bằng biết bao sinh
mạng của những chiến sĩ tự do, những con người cách mạng không tuân theo
mệnh lệnh của anh ta, vẫn tiếp tục chiến đấu. Chính cái nỗi nhục của một kẻ
đầu hàng quay lại đi bắn giết những người cùng chí hướng với mình đã buộc
anh ta phải từ chối tấm huân chương công huân. Anh ta trở về đoàn tụ với
gia đình, sống trong tình thương bao la của Úrsula Iguarán. Anh ta lại sản
xuất những con cá vàng không nhằm mục đích kiếm lời mà nhằm mục đích
được yên thân, đời sống không cần phải bận tâm, phải suy nghĩ. Nghĩa là
bằng cách sống này anh ta vẫn sống cho bản thân anh ta. Anh ta không yêu
ai ngoài bản thân mình. Ðó chính là bi kịch của đại tá Aureliano Buendía…
Người duy nhất hiểu được tư chất cá nhân ích kỷ của đại tá Aureliano
Buendía là cụ Úrsula Iguarán, người mẹ của đại tá. Với trí minh mẫn của cụ
già sống ngoài trăm tuổi, Úrsula Iguarán đã nhận ra cái tiếng khóc của đại tá
ngay từ lúc còn trong bụng mẹ không phải là dấu hiệu của người có tài nói
giọng bụng hay có tài tiên tri mà chỉ đơn thuần là dấu hiệu không thể nhầm
lẫn được của sự bất lực trước tình yêu. Nó là dấu hiệu của cái cô đơn. Cũng
nhờ sống lâu, nhờ trí minh mẫn, cụ điểm duyệt lại những cháu con của mình
và cụ thấy ra tất cả bọn họ, người nhiều người ít đều sống ích kỷ, đều sống
trái thói trái nết, đều không thể hòa đồng với gia đình, với làng xóm, với xã
hội. Cụ cũng nhận ra cái lối sống ích kỷ, cái lối sống trái thói trái nết ấy cũng
đáng kinh tởm như cái đuôi con lợn từng ám ảnh suốt cả cuộc đời cụ. Và cái
đuôi lợn của người cuối cùng dòng họ Buendía là sự vật chất hóa, là sự bản
thể hóa của tác giả về thói sống ích kỷ của loại người đã đánh mất bản chất
người - tổng hòa các mối quan hệ xã hội, của loại người thú vật. Bà cụ nhận
thấy những người trong dòng họ không thiếu sức mạnh cơ bắp và trí tuệ,
không thiếu lòng dũng cảm và ý chí kiên cường. Cái thiếu duy nhất của
những José Arcadio và Aureliano là tình yêu, là trái tim yêu thương sôi nổi
và mãnh liệt của Rebeca, người không hề bú dòng sữa của cụ. Tình yêu là
cái cần cho dòng họ mình. Bởi chỉ có tình yêu thực sự và chân thành mới là
động lực chính khiến cá nhân hòa đồng với gia đình, với làng xóm và cộng
đồng xã hộ...
Tên tiếng Tây ban nha: Cien años de soledad
Tác giả : Gabriel Garcia Márquez
Dịch giả : Nguyễn Trung Đức
Thể loại : Văn học nước ngoài
Nhà xuất bản : Văn Học
Năm xuất bản : 2003
Số trang : 484
Kích thước : 13 x 19 cm
Trọng lượng : 530 g
Số quyển / 1 bộ : 1
Hình thức bìa : Bìa cứng
Giá bìa : 55.000 VNĐ
Nguồn : vnthuquan
–––––––––––Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
LỜI GIỚI THIỆU
Tiểu thuyết đạt giải Nobel văn học năm 1982
Nhà văn Gabriel García Márquez
Cho đến nay Trăm năm cô đơn vẫn là cuốn tiểu thuyết lớn nhất của
Gabriel García Márquez (1928), nhà văn Colombia, người được giải Nobel
về văn học năm 1982. Trăm năm cô đơn ra đời (1967) đã gây dư luận sôi nổi
trên văn đàn Mỹ Latinh và lập tức được cả thế giới hâm mộ. Theo số liệu của
tác giả đến năm 1970, Trăm năm cô đơn đã được in bằng tiếng Tây Ban Nha
hơn nửa triệu bản, chưa kể lần in ở Cuba xã hội chủ nghĩa (một lần hai vạn
bản, lần sau tám vạn bản) và mười bảy hợp đồng xin phép tác giả được dịch
tác phẩm này ra các thứ tiếng khác. Sau gần hai mươi năm, Trăm năm cô
đơn đã có mặt ở khắp nơi trên hành tinh chúng ta để đến với mọi người và
mọi nhà. Rõ ràng Trăm năm cô đơn là một cuốn sách ăn khách mặc dù tác
giả của nó không viết với mục đích câu khách.
Cốt truyện và đề tài
Trăm năm cô đơn là câu chuyện về dòng họ Buendía tồn tại bảy thế hệ,
người đầu tiên bị trói vào gốc cây và người cuối cùng đang bị kiến ăn, một
dòng họ tự lưu đày vào cõi cô đơn để chạy trốn tội loạn luân. Cái tội loạn
luân này khởi sự từ việc tên cướp biển Francis Drake tấn công Riohacha
khiến các cụ tổ của Úrsula Iguarán phải chuyển đến lập nghiệp ở một làng
hẻo lánh. Tại đây các cụ tổ của José Arcadio Buendía đã lập nghiệp bằng
nghề trồng thuốc lá. Qua ba thế kỷ, hai dòng họ này đã có quan hệ thâm
giao, cháu chắt họ lấy lẫn nhau dẫn tới thảm họa đẻ ra một người đàn ông có
đuôi lợn. Chính cái gương tày liếp này đã khiến cha mẹ José Arcadio
Buendía và Úrsula Iguarán tìm mọi cách ngăn cản nhưng họ vẫn cứ lấy nhau.
Khi đã là vợ chồng rồi và dẫu José Arcadio Buendía tuyên bố “dù có đẻ ra
kỳ đà anh cũng cóc cần”. Úrsula Iguarán vẫn sợ đẻ ra đứa con có đuôi lợn,
nên khi đi ngủ bao giờ cô cũng mặc chiếc quần trinh tiết do mẹ may cho. Sự
việc kéo dài hơn một năm khiến dân làng ngạc nhiên và đồn rằng anh chồng
là kẻ bất lực. Một hôm, bị thua José Arcadio Buendía trong một cuộc chọi
gà, Prudencio Aguilar không kìm được lòng đã lỡm bạn: “Tao mừng cho
mày và để xem cái con gà này có làm phúc cho vợ mày không”. Vì lời nói
lỡm ấy anh ta phải trả cả tính mạng. Nhưng không vì thế, người chiến thắng
được sống thanh thản, trái lại lúc nào cũng bị lương tâm dằn vặt đến mức
phải bỏ làng tìm đền một miền đất không được hứa trước để lập ra làng
Macondo, để tự lưu đày trong cõi cô đơn trăm năm. Rồi trong cõi cô đơn ấy,
những José Arcadio và những Aureliano, những Remedios và những
Amaranta đã ra đời, sống cuộc đời với số phận bi đát dường như đã được
định trước: lay lắt trong nỗi cô đơn và hoài nhớ, thấp thỏm lo phạm tội loạn
luân.
Nhưng lo cũng chẳng được. Lúc còn đang thời sinh nở, sau mỗi lần đẻ
Úrsula Iguarán đều cặn kẽ xem con mình có mang bộ phận nào của con vật
không. Về già, cụ luôn luôn nhắc nhở đám cháu con hãy mở to mắt để nhận
mặt họ hàng, đừng chung đụng xác thịt mà sinh con có đuôi lợn. Nhưng cụ
không thể sống đến hết chuyện để khuyên giải Amaranta Úrsula và
Aureliano Babilonia. Vì không biết rõ gốc gác, không nắm được quan hệ
ruột thịt, Amaranta Úrsula và Aureliano Babilonia đã yêu nhau mãnh liệt, ăn
nằm với nhau và lấy nhau với hy vọng tình yêu sẽ cải tạo nòi giống mình.
Nhưng họ đã đẻ ra đứa con quái thai có đuôi lợn và con vật huyền thoại này
đã kết liễu dòng họ Buendía tồn tại bảy thế hệ. Rõ ràng trong thế giới cô đơn
và hoài nhớ ấy, những người trong dòng họ Buendía đã phạm tội loạn luân
dù cho họ cô ý chạy trốn tội loạn luân. Như vậy chúng ta thấy trong Trăm
năm cô đơn, loạn luân là một đề tài đã mở và đóng lại một thiên truyện.
Nhưng sự ra đời và tồn tại của dòng họ Buendía lại gắn rất chặt với số phận
của làng Macondo. Lúc đầu Macondo là một làng quê hiền hòa. Tại đây
chưa một ai đã ngoài ba mươi tuổi. Macondo chưa có nghĩa địa, dân trí
Macondo chưa được khai sáng. Ðứng đầu làng là José Arcadio Buendía, một
tộc trưởng. Ông chăn dắt dân Macondo theo lề thói của công xã nông thôn.
Dân Macondo sống hiền lành, không phạm tội giết người nên không cần có
quan cai trị (phần đời) và cha cố (phần hồn). Mặc dù sống biệt lập với thế
giới bên ngoài, dân Macondo đã biết làm cho làng mình trở thành một làng
quê trù mật và yên vui. Người Digan, theo tiếng chim hót và tiếng nhạc đồng
hồ, đã tìm được đường đến với Macondo. Họ mang tới đây biết bao thứ mới
lạ mà dân Macondo chưa hề biết tới. Họ mang tới làng nghề thủ công và
nghề buôn bán. Họ lập ra phố Thổ Nhĩ Kỳ. Macondo từ một làng quê trở
thành một thị trấn. Chính phủ trung ương phái tới làng một Quan thanh tra.
Ðó là ông Apolinar Moscote. Sự có mặt của Quan thanh tra đã làm cho cuộc
sống vốn thanh bình của Macondo bỗng trở nên bị xáo trộn. Cuộc nội chiến
triền miên và khốc liệt giữa hai phái Bảo hoàng và Tự do đã nhiều phen tàn
phá Macondo, làm cho dân chúng phải nhiều phen điêu đứng. Tương ứng
với thời kỳ này của Macondo là sự trưởng thành của thế hệ thứ hai dòng họ
Buendía mà người tiêu biểu là đại tá Aureliano Buendía. Ngài đã phát động
ba mươi hai cuộc chiến và ngài phải chịu thất bại hoàn toàn, buộc phải kí
hiệp định đình chiến Neerlandia mà thực chất của bản hiệp định này là sự
đầu hàng của lực lượng Tự do trước lực lượng Bảo hoàng.
Nhờ có đường xe lửa, Macondo thực sự giao lưu với thế giới bên ngoài.
Phim ảnh, máy phát điện, máy hát, gái điếm, khách du lịch đã tràn ngập
Macondo. Công ty chuối (thực chất là Công ty hoa quả Mỹ) cũng đến đây và
lập đồn điền chuối. Dân tứ xứ đổ về Macondo. Cuộc sống Macondo sầm uất
lên. Giai đoạn này của Macondo tương ứng với thế hệ thứ tư dòng họ
Buendía mà người tiêu biểu là hai anh em sinh đôi: Aureliano Segundo và
José Arcadio Segundo. Aureliano Segundo to khỏe đầy sinh lực, sôi nổi sống
hết mình trong cõi đời thế tục. Ngược lại José Arcadio Segundo vóc người
mảnh khảnh nhưng rất thông minh, đã tham gia lãnh đạo cuộc đấu tranh của
công nhân chuối đòi cải thiện sinh hoạt và tăng lương. Người Mỹ, ở đây là
ngài Trao, rất xảo quyệt và tráo trơ tìm mọi cách thoái thác những yêu cầu
chính đáng của công nhân. Khi cuộc đấu tranh lên đến cao trào, người Mỹ đã
thẳng tay tắm máu công nhân bằng một vụ thảm sát tất cả những ai có mặt ở
sân ga và sau đó dùng đoàn tàu dài hơn hai trăm toa chở xác chết ném xuống
biển như Công ty chuối vẫn đổ chuối thối. Công ty chuối rút khỏi Macondo.
Bằng phép màu, Công ty chuối đã dìm chết Macondo trong một trận mưa lụt
kéo dài bốn năm mười một tháng hai ngày và sau đó lại rang khô nó trong
nạn hạn hán kéo dài mười một năm. Macondo tiêu điều xơ xác. Cỏ dại, sâu
bọ sinh sôi nảy nở nhanh chóng và hung hãn tiến công con người ngày một
quyết liệt hơn để đến một ngày kia một trận cuồng phong nổi lên xóa
Macondo khỏi mặt đất này.
Kết cấu và thời gian nghệ thuật
Khi đọc đến Aureliano Babilonia giải được mã của Melquíades viết trên
những tấm da thuộc, chúng ta nhận thấy Trăm năm cô đơn là chuyện về
dòng họ Buendía được viết tỉ mỉ đến từng chi tiết theo phương thức thời gian
đồng hiện với một kết cấu phức tạp và chặt chẽ. Viết được như vậy chính là
vì García Márquez đã khởi công viết cuốn sách này từ năm 1950. Khi ấy,
ông mới mười bảy tuổi làm một nhà báo tập sự, từng có một ít truyện ngắn
đăng trên các báo chí địa phương. Sống trên gác xép một tòa nhà bốn tầng,
nhiều bữa phải ăn cơm của các cô gái điếm nghèo cùng trọ trong ngôi nhà
ấy, García Márquez viết cuốn tiểu thuyết nhan đề Ngôi nhà (La Casa) bao
gồm những chuyện về ngôi nhà có ma, ngôi nhà của chính ông bà ngoại
mình. Ðây là câu chuyện ông biết được qua miệng người bà ngoại có biệt tài
kể chuyện. Và đây cũng là cuộc nội chiến giữa phái Bảo hoàng và phái Tự
do qua miệng người ông ngoại, một cựu chiến binh của phái Tự do. Những
chuyện này gắn bó với tuổi ấu thơ của nhà văn. Ông phải bỏ dở cuốn sách,
có lẽ vì ông còn quá trẻ. Sau đó chúng ta thấy ông lần lượt cho ra mắt bạn
đọc những tác phẩm như. Ðôi mắt chó xanh (tập truyện, 1955), Lá rụng (tiểu
thuyết, 1955), Ngài đại tá chờ thư (truyện, 1957), Giờ xấu (tiểu thuyết,
1962) và Ðám tang của bà Mẹ vĩ đại (tập truyện, 1962). Chúng ta thấy
những nhân vật này có mặt nhiều lần trong các tác phẩm trên và chúng có
liên quan với nhau vì chúng đều ở làng Macondo hoặc có dịp qua lại làng
Macondo. Hơn thế nữa, chúng ta thấy nhiều nhân vật đó lại có mặt trong
Trăm năm cô đơn. Như vậy, ta có thể nói rằng qua các trang này, García
Márquez đã rèn luyện, thử thách ngòi bút mình, đã tìm ra được cái giọng
điệu độc đáo của mình trước khi bước vào viết cuốn sách ông từng ấp ủ
nhiều năm, đó là Trăm năm cô đơn. Ông thuộc lòng câu chuyện đến mức có
thể kể ngược rồi kể xuôi cho các bạn mình nghe. Vào một ngày tốt lành năm
1965, ông bảo Mercedes Barcha, vợ ông, rằng: “Từ nay em lo chuyện nhà
cửa để anh chuyên viết sách”. Ông dành mười tám tháng, ngày nào cũng như
ngày nào, sáng bắt đầu từ tám giờ, chiều kết thúc vào lúc ba giờ, cặm cụi
viết. Khi viết được hai trăm trang, ông đọc tiểu thuyết Thế kỷ ánh sáng của
nhà văn Alejo Carpentier. Vì nhận thấy lời văn cuốn sách mình đang viết na
ná giống lời văn của Thế kỷ ánh sáng, ông xé bỏ bản thảo, bắt đầu viết lại từ
đầu. Cuốn sách được phát hành, đã gây dư luận sôi nổi trên văn đàn Mỹ
Latinh. Thành công ấy hoàn toàn không bất ngờ đối với García Márquez vì
khi rời ghế nhà trường ông mang hai niềm tin lớn: chủ nghĩa xã hội và những
cuốn tiểu thuyết hay, vì trách nhiệm của người cầm bút là phải viết cho thật
hay. Trăm năm cô đơn là một trong những cuốn tiểu thuyết ông mơ ước và
đã phấn đấu để có được.
Khi đọc xong Trăm năm cô đơn chúng ta thấy ở cuốn sách này có hai
văn bản. Văn bản một là cái văn bản chúng ta đọc hết dòng này sang dòng
khác chạy suốt từ đầu đến cuối sách. Văn bản hai là văn bản được
Melquíades viết trên những tấm da thuộc. Văn bản hai làm nền cho văn bản
một. Tương ứng với hai văn bản trên có hai người kể chuyện. Một là người
kể chuyện ở văn bản một, chúng tôi gọi là người kể chuyện thứ nhất, và
người kia là Melquíades kể chuyện ở văn bản hai, chúng tôi gọi là người kể
chuyện thứ hai. Sau khi đã thuộc lòng câu chuyện về dòng họ Buendía do
người kể chuyện thứ hai ghi trên những tấm da thuộc, người kể chuyện thứ
nhất, với tư cách nhà thông thái, người hiểu biết tất cả, theo sở thích của
mình kể lại cho chúng ta nghe chính những câu chuyện ấy. Rồi trong khi kể
cho chúng ta nghe, người kể chuyện thứ nhất đã vận dụng kết cấu sự kiện để
làm nổi bật tính cách một nhân vật hoặc bản chất một sự kiện bằng cách hội
tụ các sự kiện, các tình tiết theo thứ tự biên niên sử. Tương ứng với hai
người kể chuyện, trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn có hai thời gian sau
đây:
a) Thời gian của người kể chuyện thứ nhất tương ứng với văn bản một,
bắt đầu với việc giới thiệu một nhân vật, rồi đến thế kỷ, sau đó lại tiếp nối
cùng với việc kể tiếp về nhân vật ấy. Thời gian của người kể chuyện thứ nhất
dường như lấp kín mọi khoảng không gian trong đó nhân vật tồn tại và nó
cho ta cảm quan về toàn bộ cuộc đời nhân vật ấy. Ví dụ: kể về cuộc đời đại
tá Aureliano Buendía, cuốn sách mở đầu: “Rất nhiều năm sau này, trước đội
hành hình, đại tá Aureliano Buendía đã nhớ lại buổi chiều xa xưa ấy, cái
buổi chiều cha chàng dẫn chàng đi xem nước đá”. Trong sách cái thời điểm
Aureliano Buendía sắp bị hành quyết nằm ở chương thứ bảy. Sự kiện cha
chàng dẫn chàng đi xem nước đá lại được kể ngay từ chương thứ nhất. Như
vậy là trong suốt bảy chương đầu cuốn sách, tác giả nói về cuộc đời niên
thiếu, trưởng thành cho đến khi đi trận của đại tá Aureliano. Tiếp đó thời
gian của người kể chuyện thứ nhất mới vận động tiếp để kể cho chúng ta biết
về những hành động, những thất bại chua cay sau này của đại tá Aureliano.
Cuộc đời các nhân vật khác như Aureliano Segundo và Aureliano Babilonia
cũng được trình bày tương tự. Như vậy, thời gian của người kể chuyện thứ
nhất là thời gian tâm lý gắn với quá trình nhớ lại, quá trình hồi tưởng.
b) Thời gian của người kể chuyện thứ hai gắn với văn bản hai. Thời gian
này là thời gian dòng họ Buendía ra đời, thịnh đạt và tuyệt diệt. Nhưng vì
dòng họ này là một dòng họ đã được khẳng định, không phát triển tới một
tương lai nào nên thời gian của người kể chuyện thứ hai chuyển động vòng
tròn. Thời gian của người kể chuyện thứ hai là thời gian cốt truyện mang tính
biên niên sử, nó là thời gian thực tại, tồn tại độc lập với ý thức của người kể
chuyện thứ nhất.
Trong Trăm năm cô đơn chúng ta thấy hai loại thời gian này đan bện lấy
nhau, hòa quyện vào nhau, trong đó thời gian của người kể chuyện thứ hai,
thời gian thực tại, giữ vai trò then chốt, tạo thành thời gian nghệ thuật của tác
phẩm, phản ánh được đặc trưng trì động, chậm phát triển cua Mỹ Latinh:
“Xét về mặt hình thức mà nói thời gian của sự chậm phát triển thường vận
động theo chu kỳ khép kín và về mặt kỹ thuật mà nói nó thường bị chia vụn
thành các khoảnh khắc. Nó có tính chất vận động theo chu kỳ khép kín, là vì
cái quá trình lịch sử không bao giờ được kết thúc. Khởi nghĩa không bao giờ
có tác động đẩy sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc đi tới nền độc lập
thật sự. Ðất nước không bao giờ đi tới độc lập thực sự. Cá nhân không bao
giờ đi tới sự tự ý thức hoàn toàn. Tất cả đều thay đổi đều chuyển hóa nhưng
tất cả đều giẫm chân tại chỗ”[1].Thời gian đa chiều, thời gian nghệ thuật của
Trăm năm cô đơn là một thành tựu của García Márquez. Nhưng thời gian
nghệ thuật của tác phẩm chỉ đạt hiệu quả nghệ thuật cao khi García Márquez
tạo ra được một Macondo, sản phẩm tuyệt vời của hư cấu nghệ thuật. Chúng
ta có thể dễ dàng nhận ra Aracataca là nguyên mẫu của Macondo vì trong tác
phẩm, nhất là phần cuối, chúng ta có thể nhận ra những người thật việc thật
của Aracataca, quê hương của tác giả. Ví dụ theo Germán Vargas, nhà phê
bình văn học Colombia, bạn thân của García Márquez, thì cụ già bán sách cổ
người Catalunya chính là cụ Ramón Jiménez. Bốn người bạn trẻ chơi thân
với nhau chính là tác giả (vai Gabriel) và các bạn của ông như Álvaro chính
là nhà văn Álvaro Cepeda Samudio, Vargas chính là nhà phê bình văn học
Germán Vargas và Alfonso chính là họa sĩ Alfonso Fuenmayor. Dù có thế đi
nữa Macondo vẫn không phải là Aracataca mà ngược lại Macondo là bất kì
một thành phố nào của Colombia nói riêng, của Mỹ Latinh nói chung.
Macondo là một địa danh hư cấu đủ sức dung nạp mọi chuyện, từ chuyện có
thực đến chuyện tưởng tượng - dù tưởng tượng theo nguyên tắc hư cấu nghệ
thuật hay tưởng tượng theo nguyên tắc huyền thoại. Nhờ vậy, thực tại đời
sống ùa vào tác phẩm một cách phong phú, đa dạng, không chỉ cái có thực
mà còn có cả cái không có thực theo những cấp độ sau đây:
1. Cái có thực vốn là những sự kiện lịch sử từng xảy ra ở Colombia và
Mỹ Latinh được tác giả tái hiện chính xác tới từng chi tiết. Ðó là cuộc nội
chiến triền miên và khốc liệt giữa phái Bảo hoàng và phái Tự do. Sĩ quan hai
phái ban ngày đánh nhau kịch liệt, ban đêm làm bạn cờ bạc. Trong Trăm
năm cô đơn, điều đó được phản ảnh trong quan hệ bạn bè giữa đại tá
Aureliano và tướng Raquel Moncada.
2. Cái có thực vốn là cái lạc hậu, cổ hủ của Mỹ Latinh được tác giả tái
hiện trong tác phẩm theo phương pháp phúng dụ. Chính nhờ thế, giọng điệu
hài hước đã nổi đậm trong Trăm năm cô đơn. Ví dụ: đá nam châm, kính lúp,
thước đo góc, la bàn, nước đá (ở phần đầu), máy hát, máy nổ, phim ảnh, xe
lửa (ở phần cuối). Ðó là những công cụ từng được sáng chế và sử dụng phổ
biến trên thế giới nhưng vẫn là những thứ tân kì đối với dân chúng Macondo.
3. Cái có thực mang tính chất kì diệu được tác giả đưa vào tác phẩm. Ðó
là khả năng ngoại cảm tuyệt vời của đại tá Aureliano Buendía. Ðó là sự đồng
cảm tuyệt đối giữa hai chú bé sinh đôi khi người này uống nước chanh thì
người kia, mặc dù không uống, vẫn cứ nói đúng trăm phần trăm là nước
chanh không pha đường.
4. Cái có thực được nhà văn tưởng tượng theo nguyên tắc huyền thoại
hóa đẩy nó tới mức phi thường hoặc quái dị. Ðó là trường hợp Remedios Người đẹp là một cô hầu người Anh-điêng. Cô ta vốn không đẹp. Cô ta vô
cớ bỏ nhà chủ và chủ nhà không hay biết cô ta bỏ đi lúc nào và đi đâu. Trong
Trăm năm cô đơn, cái cô người ở ấy đã trở thành người trong gia đình, người
đẹp và cô ta đã bay lên trời vì cô ta là hiện thực là cái đẹp không thuộc cõi
thế tục này. Ngược lại với trường hợp cô gái là vụ thảm sát hơn ba ngàn
người là chuyện có thực từng xảy ra ở Colombia vào cuối những năm hai
mươi thế kỉ này, nhưng đã được García Márquez huyền thoại hóa theo
hướng quái dị để bộc lộ bản chất xấu xa, đê tiện, tàn nhẫn của tư bản Mỹ.
5. Cái không có thực do nhà văn căn cứ vào cảm quan của mình trước
thực tại xã hội mà tưởng tượng ra rồi đưa vào tác phẩm theo nguyên tắc
huyền thoại hóa. Mưa hoa trong đám tang của José Arcadio Buendía là cảm
quan xót thương của tác giả trước một con người đầy nghị lực, đầy thông
minh, luôn đam mê hiểu biết. Trận mưa lụt là cảm quan của tác giả trước
thực tại trì động đã đến ngày tận thế của xã hội Mỹ Latinh. Cái đuôi con lợn
của thằng bé cuối cùng trong dòng họ Buendía là cảm quan của tác giả về
loại người chưa thành người hoặc đã bị hạ cấp dưới mức người.
Nhân vật và thông điệp
Thành công của García Márquez trong việc tạo ra một không gian và thời
gian nghệ thuật như trên đã mở ra một khả năng to lớn trong việc xây dựng
các nhân vật có cá tính. Chúng ta dễ dàng nhận ra những nhân vật trong
Trăm năm cô đơn là những nhân vật siêu mẫu, tức là những con người phi
thường, dị hợm và quái dị. Nhờ tính chất siêu mẫu này, các nhân vật trong
Trăm năm cô đơn đã gây hào hứng cho độc giả để rồi mãi mãi đọng lại trong
tâm trí bạn đọc. Quả vậy, trong Trăm năm cô đơn có khoảng sáu mươi nhân
vật, kẻ cả chính lẫn phụ. Nhân vật nào cũng có cá tính rất sông động trước
mắt chúng ta. Thành công này có được là nhờ García Márquez đã vận dụng
và nâng cao thủ pháp xây dựng nhân vật của truyện kể dân gian: chỉ chấm
phá đôi nét còn nhường chỗ cho trí tưởng tượng của người đọc người nghe.
Tùy từng nhân vật cụ thể, ông thấy cần nhấn mạnh nét cá tính nào thì ông tập
trung miêu tả những biểu hiện của cá tính ấy. Cần phải làm nổi bật tư chất
thị dân của Pietro Crespi thì ông miêu tả và chỉ miêu tả cái bàn tay có nước
da mai mái xanh của anh ta. Cần làm nổi bật trái tim yêu rạo rực của Pilar
Ternera, García Márquez luôn nhấn mạnh đến cái mùi khen khét phả ra từ
nách ả, đến cái tiếng cười khanh khách của ông như tiếng gù cù cù rục của
con bồ câu. Cần làm nổi bật tư chất rầu rĩ của đại tá Aureliano Buendía ông
nhấn mạnh tiếng khóc từ trong bụng mẹ của đại tá. Cần làm nổi bật tư chất
trác táng, đam mê rượu chè và hội hè của Aureliano Segundo ông nhắc đi
nhắc lại nhiều lần cái câu nói đầy khẩu khí của anh ta: “Hỡi những con bò
cái hãy dạng háng ra kẻo cuộc đời ngắn ngủi lắm” v.v… và v.v…
Như vậy chúng ta thấy mỗi nhân vật được khu biệt hóa với các nhân vật
khác bởi chỉ một hoặc vài ba điểm. Trong nhiều trường hợp, những đặc điểm
này được phóng đại đến mức quái dị như những chiếc mặt nạ. Và do đó nhân
vật trở thành siêu mẫu gây ấn tượng sâu sắc trong người đọc. Chúng ta
không thể quên được Babilonia, anh thợ cơ khí của Công ty chuối với đàn
bướm vàng, không thể quên được Remedios Người đẹp với luồng khí độc có
hiệu quả trong việc làm chết những kẻ đam mê cô do không biết cách chứng
tỏ tình yêu của mình không thể quên được Melquíades với chiếc mũ cánh
quạ không thể quên được Petra Cotes mà tình dục của cô ta có ảnh hưởng
quyết định đến tính mắn đẻ của gia súc không thể quên được Rebeca, cô gái
nặng hoài nhờ ăn đất, v.v… và v.v… Nhờ thủ pháp này García Márquez
giúp chúng ta phân biệt những nhân vật cùng tên trong gia đình Buendía vốn
[2]
có thói quen lấy tên cha mẹ đặt cho con. Chúng ta dễ dàng nhớ và phân
biệt José Arcadio Buendía, người sáng lập ra làng Macondo với José Arcadio
kẻ đi vòng quanh thế giới, với Arcadio José tên bạo ngược, với José Arcadio
Segundo kẻ trầm tư lánh đời và José Arcadio kẻ đi tu không đắc đạo. Chúng
ta nhớ và phân biệt ngài đại tá Aureliano Buendía, người phát động ba mươi
hai cuộc chiến, với Aureliano Segundo kẻ trác táng, với Aureliano Babilonia
người thông minh chịu học đã đọc được văn bản tiếng Phạn do Melquíades
viết trên những tấm da thuộc và với Aureliano kẻ bị kiến tha. Dĩ nhiên ngoài
những đặc điểm bên ngoài làm nổi bật tính cách nhân vật, những José
Arcadio và những Aureliano còn được định vị bởi chức vụ nghề nghiệp và
thế hệ. Nhưng nếu chúng không được đặc điểm hóa bằng những cá tính khác
thường và dị thường, chúng ta sẽ dễ dàng nhầm lẫn bởi chúng giống nhau.
Khi còn bé bao giờ họ cũng ngoan ngoãn, đôi khi nhút nhát, hay nghịch
ngợm. Ðiển hình cho sự giống nhau này là trường hợp hai cậu bé sinh đôi
Nhưng càng lớn họ càng khác nhau. Những Aureliano có trí thông minh
tuyệt vời nhưng lại mắc chứng trầm tư, ủ dột và chán đời. Trong khi đó
những José Arcadio bao giờ cũng khỏe mạnh, táo gan và sống chan hòa. Hai
tuyên nhân vật này có lúc hoán vị tư chất cho nhau. Ðó là trường hợp hai anh
em sinh đôi: José Arcadio và Aureliano Segundo. Những đặc tính giống
nhau này là yếu tố di truyền của ông tổ José Arcadio Buendía. Ở ông tổ này,
chúng ta thấy vừa có sức mạnh cơ bắp vừa có sức mạnh trí tuệ vừa manh
động táo bạo, bốc đồng vừa có ý chí mạnh mẽ và kiên quyết. nhưng đức tính
ấy được di truyền lại cho đám cháu con theo hai nhánh: những José Arcadio
và những Aureliano. Cái ông tổ này còn di truyền lại cho đám cháu con cả
nỗi cô đơn hoài nhớ do lương tri bị dằn vặt trước cái chết của Anxiô Agliđa.
[3]
Tuy là những người khỏe mạnh, thông minh, có ý chí và nghị lực phi
thường, nhưng những José và những Aureliano bao giờ cũng thất bại, cũng
phải sống trong cảnh cô đơn. Chính sự giống nhau này đã gây cho Úrsula
Iguarán luôn luôn có cảm giác thời gian quay tròn vì bà lão cứ nhận thấy các
thế hệ sau giống hệt thế hệ trước. Khi về già, bà lão luôn luôn nhầm lẫn José
Arcadio Segundo và Aureliano Babilonia mà với ngài đại tá Aureliano
Buendía, con trai bà. Pilar Ternera cũng nêu ra những nét tương đồng giữa
các thế hệ trong dòng họ Buendía. Hiển nhiên, chúng ta thấy rằng cái sự lặp
lại ấy có được là do thời gian của người kể chuyện thứ hai chuyển động theo
một đường tròn khép kín. Cái vòng tròn lớn nhất là cái vòng tròn dòng họ
Buendía chạy trốn tội loạn luân - đi lập làng mới - phạm tội loạn luân và bị
tuyệt diệt. Trong cái dòng tròn lớn này có các vòng tròn nhỏ, những mảnh
vụn của thời gian, trong đó bảy thế hệ dòng họ Buendía tồn tại. Mỗi vòng
tròn là một cuộc đời nhân vật. Tiêu biểu cho những vòng tròn ấy là vòng tròn
- cuộc đời của đại tá Aureliano Buendía khi còn trẻ sản xuất những con cá
vàng đi chiến trận về già lại sản xuất những con cá vàng, là vòng tròn - cuộc
đời của hai anh em sinh đôi Aureliano Segundo và José Arcadio Segundo:
lúc thiếu thời giống nhau như hình với bóng lớn lên, một người béo phì, sôi
nổi dấn thân vào cuộc đời thế tục, người kia gầy cao, trầm tư và lánh đời đến khi chết lại giống nhau như đúc. Những vòng tròn nhỏ này, những mảnh
vụn thời gian này, đánh dấu những cố gắng của các thế hệ trong dòng họ
Buendía muốn thoát khỏi cái cô đơn. Nhưng những cố gắng ấy thảy đều vô
ích, thảy đều thất bại. Nguyên nhân tự đâu? Trước hết chúng ta thấy trong
Trăm năm cô đơn những nhân vật trong dòng họ Buendía ngày càng tách
mình khỏi cộng đồng xã hội và trong quá trình hiện hữu, họ ngày một trở
thành những người sống trái tính trái nết. Và cái thói sống trái tính trái nết
này đến lượt nó lại đào sâu thêm cái hố ngăn cách họ với cộng đồng xã hội.
Bản thân hành động bỏ làng cũ đi lập làng mới (Macondo) của José Arcadio
Buendía là bước đầu tiên dòng họ này tự tách mình khỏi cộng đồng xã hội,
khỏi lịch sử và truyền thông văn hóa. Rồi ở làng Macondo, vì thèm khát
những tiến bộ khoa học ở bên ngoài, José Arcadio Buendía say sưa và bồng
bột lao vào những tìm kiếm khoa học. Ông tự giam mình trong phòng thí
nghiệm, và công việc tìm kiêm những phát kiến đã ngày càng đưa ông tới bờ
vực của sự thất bại. Ông trở thành một kẻ điên dại và bị trói vào gốc cây dẻ.
Đến người chắt José Arcadio Segundo, cái chân lý duy nhất mà anh ta muốn
chứng minh cho mọi người biết: vụ thảm sát rùng rợn những người lao động
ở sân ga thành phố là có thật, đã không thể nào đến với quần chúng. Nguyên
nhân của thất bại trên là do anh ta quá hoảng sợ nên chạy trốn vào phòng
Melquíades, tự giam mình trong đó, không chịu tiếp xúc, không chịu đối
thoại với bất kì ai ngoại trừ người anh em sinh đôi và thằng cháu họ. Tự tách
mình khỏi cộng đồng xã hội, sống cuộc sống dị thường còn là nguy cơ dẫn
cá nhân đến cuộc sống độc đoán chuyên quyền. Khi cá nhân đã có quyền
hành trong tay sẽ trở thành tên độc tài, tên bạo chúa khát máu hơn cả bạo
chúa thời Trung cổ. Từ khi nhỏ đến khi đi trận, bị bắt làm tù binh, bị án tử
hình, Aureliano Buendía là một nhân vật đáng yêu, thậm chí rất đáng yêu.
Ấy là lúc anh ta còn gắn với đời thường, còn biết xuất phát từ thực tiễn mà
hành động và suy nghĩ. Anh ta là một chàng thanh niên vừa thông minh, vừa
dũng cảm. Nhưng khi trở thành một tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang vùng
duyên hải, anh ta đã tự tách cá nhân mình khỏi đồng đội khỏi cộng đồng xã
hội thậm chí còn đối lập với đồng đội, với xã hội bằng chính đội quân cấm
vệ đông đúc, và cái vòng phấn trắng mà anh ta ngồi ở chính giữa để ban phát
các mệnh lệnh và lề luật, để chơi trò chơi chiến tranh. Anh ta chiến đấu
không vì một lý tưởng nào, ngay cả đảng Tự do của mình. Anh ta chiến đấu
cho bản thân mình, cho niềm kiêu hãnh của cá nhân mình. Với phương châm
xử thế. “Người bạn tốt nhất là người bạn vừa chết”, anh ta sẵn sàng cho tay
chân hoặc nhân danh cách mạng giết những người bạn tốt của mình một khi
người bạn ấy đe dọa vị trí của anh ta ví dụ việc giết thủ lĩnh những người da
đỏ Teófilo Vargas. Bất kể tình bạn keo sơn với đại tá Gerineldo Márquez,
anh ta sẵn sàng kết tội tử hình người bạn mình. Anh ta không bạn. Anh ta cô
đơn và càng cô đơn hơn nữa khi mà những người bạn cùng chiến hào tư
tưởng những người thuộc đảng Tự do, quay lưng lại với anh ta, không chịu
ra thông cáo bác bỏ những luận điệu của phái Bảo hoàng vu anh ta là một tên
cướp: Rồi cũng vì niềm kiêu hãnh của cá nhân mình, vì danh tiếng của con
người mình anh ta kí hiệp định đình chiến Neerlandia mà thực chất của nó là
sự đầu hàng, là cú mua bán cuối cùng nhằm đem lại vinh quang cho bản thân
anh ta và chính cái vinh quang này, tức là cái huân chương công huân mà
Tổng thống nước Cộng hòa tặng, anh ta cũng phải đổi bằng biết bao sinh
mạng của những chiến sĩ tự do, những con người cách mạng không tuân theo
mệnh lệnh của anh ta, vẫn tiếp tục chiến đấu. Chính cái nỗi nhục của một kẻ
đầu hàng quay lại đi bắn giết những người cùng chí hướng với mình đã buộc
anh ta phải từ chối tấm huân chương công huân. Anh ta trở về đoàn tụ với
gia đình, sống trong tình thương bao la của Úrsula Iguarán. Anh ta lại sản
xuất những con cá vàng không nhằm mục đích kiếm lời mà nhằm mục đích
được yên thân, đời sống không cần phải bận tâm, phải suy nghĩ. Nghĩa là
bằng cách sống này anh ta vẫn sống cho bản thân anh ta. Anh ta không yêu
ai ngoài bản thân mình. Ðó chính là bi kịch của đại tá Aureliano Buendía…
Người duy nhất hiểu được tư chất cá nhân ích kỷ của đại tá Aureliano
Buendía là cụ Úrsula Iguarán, người mẹ của đại tá. Với trí minh mẫn của cụ
già sống ngoài trăm tuổi, Úrsula Iguarán đã nhận ra cái tiếng khóc của đại tá
ngay từ lúc còn trong bụng mẹ không phải là dấu hiệu của người có tài nói
giọng bụng hay có tài tiên tri mà chỉ đơn thuần là dấu hiệu không thể nhầm
lẫn được của sự bất lực trước tình yêu. Nó là dấu hiệu của cái cô đơn. Cũng
nhờ sống lâu, nhờ trí minh mẫn, cụ điểm duyệt lại những cháu con của mình
và cụ thấy ra tất cả bọn họ, người nhiều người ít đều sống ích kỷ, đều sống
trái thói trái nết, đều không thể hòa đồng với gia đình, với làng xóm, với xã
hội. Cụ cũng nhận ra cái lối sống ích kỷ, cái lối sống trái thói trái nết ấy cũng
đáng kinh tởm như cái đuôi con lợn từng ám ảnh suốt cả cuộc đời cụ. Và cái
đuôi lợn của người cuối cùng dòng họ Buendía là sự vật chất hóa, là sự bản
thể hóa của tác giả về thói sống ích kỷ của loại người đã đánh mất bản chất
người - tổng hòa các mối quan hệ xã hội, của loại người thú vật. Bà cụ nhận
thấy những người trong dòng họ không thiếu sức mạnh cơ bắp và trí tuệ,
không thiếu lòng dũng cảm và ý chí kiên cường. Cái thiếu duy nhất của
những José Arcadio và Aureliano là tình yêu, là trái tim yêu thương sôi nổi
và mãnh liệt của Rebeca, người không hề bú dòng sữa của cụ. Tình yêu là
cái cần cho dòng họ mình. Bởi chỉ có tình yêu thực sự và chân thành mới là
động lực chính khiến cá nhân hòa đồng với gia đình, với làng xóm và cộng
đồng xã hộ...
 
Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân





