HÀNH KHÚC TRƯỜNG TRẦN QUÝ CÁP HỘI AN
Thép đã tôi thế đấy

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 23h:10' 20-11-2024
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 23h:10' 20-11-2024
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
LỜI GIỚI THIỆU
PHẦN 1 - CHƯƠNG 1
PHẦN 1 - CHƯƠNG 2
PHẦN 1 - CHƯƠNG 3
PHẦN 1 - CHƯƠNG 4
PHẦN 1 - CHƯƠNG 5
PHẦN 1 - CHƯƠNG 6
PHẦN 1 - CHƯƠNG 7
PHẦN 1 - CHƯƠNG 8
PHẦN 1 - CHƯƠNG 9
PHẦN 2 - CHƯƠNG 1
PHẦN 2 - CHƯƠNG 2
PHẦN 2 - CHƯƠNG 3
PHẦN 2 - CHƯƠNG 4
PHẦN 2 - CHƯƠNG 5
PHẦN 2 - CHƯƠNG 6
PHẦN 2 - CHƯƠNG 7
PHẦN 2 - CHƯƠNG 8
PHẦN 2 - CHƯƠNG 9
LỜI GIỚI THIỆU
Thép đã tôi thế đấy không phải là một tác phẩm văn học chỉ nhìn đời mà viết. Tác giả
sống nó rồi mới viết nó. Nhân vật trung tâm Pa-ven chính là tác giả: Nhi-ca-lai A-xtơrốp- xki. Là một chiến sĩ cách mạng tháng Mười, ông đã sống một cách nồng cháy
nhất, như nhân vật Pa-ven của ông. Cũng không phải một cuốn tiểu thuyết tự thuật
thường vì hứng thú hay lợi ích cá nhân mà viết. A-xtơ-rốp-xki viết Thép đã tôi thế đấy
trên giường bệnh, trong khi bại liệt và mù, bệnh tật tàn phá chín phần mười cơ thể.
Chưa bao giờ có một nhà văn sáng tác trong những điều kiện gian khổ như vậy. Trong
lòng người viết phải có một nhiệt độ cảm hứng nồng nàn không biết bao nhiêu mà kể.
Nguồn cảm hứng ấy là sức mạnh tinh thần của người chiến sĩ cách mạng bị tàn phế,
đau đớn đến cùng cực, không chịu nằm đợi chết, không thể chịu được xa rời chiến
đấu, do đó phấn đấu trở thành một nhà văn và viết nên cuốn sách này. Càng yêu cuốn
sách, càng kính trọng nhà văn, càng tôn quí phẩm chất của con người cách mạng.
Thép đã tôi thế đấy có một địa vị đặc biệt trong lịch sử văn học Liên Xô và nền văn
học tiên tiến thế giới. Cách mạng tháng Mười thắng lợi, cuộc chiến đấu vĩ đại chưa
từng có bao giờ của nhân dân lao động trên một dải đất Liên bang Xô Viết rộng lớn
hàng ngày đề ra và đòi hỏi không biết bao nhiêu là anh hùng. Nhân dân Liên Xô,
nhân loại tiến bộ chờ đợi văn học phản ánh và đào sâu cho mình hình ảnh con người
anh hùng mới ấy. Lần đầu tiên trong văn học, N. A- xtơ-rốp-xki thu gọn được hình
ảnh con người mới trong nhân vật Pa-ven Ca-rơ-sa-ghin. Pa-ven không những khác
hẳn với những anh hùng của các thời đại trước. Khác hẳn với những tác phẩm văn
nghệ của những năm đầu cách mạng, thường ca ngợi lòng dũng cảm vô tổ chức, tả sức
mạnh tràn trề, lớn khỏe của quần chúng như một sức mạnh bột phát, tự nhiên. Thép
đã tôi thế đấy cho ta thấy từng con người trong một quần chúng rộng lớn nẩy nở như
thế nào, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Thép đã tôi thế đấy ghi lại cả một quá
trình tôi thép, bước đường gian khổ trưởng thành của thế hệ thanh niên Xô viết đầu
tiên.
Thép ở đây là Pa-ven, là Xê-ri-ô-gia, là Va-li-a, là Giác ky, cả một lớp thanh niên lao
động, vừa lớn lên thì gặp ngay cách mạng, ý thức giai cấp và tuổi trẻ bừng lên trong
bão táp của phong trào. Lò ngàn độ nóng tôi rèn họ là cuộc đấu tranh thật trường kỳ
gian khổ, thật là tự lực cánh sinh của cách mạng tháng Mười. Người thợ vĩ đại tôi rèn
thép ấy là Đảng cộng sản, ngọn cờ và bộ tham mưu của cách mạng. Đảng lần lượt
lãnh đạo chiến tranh, đảm bảo cung cấp, tổ chức vận tải, xây dựng đường sắt, trấn áp
tàn dư phản cách mạng, tổ chức lực lượng nhân dân rộng lớn và thiết lập chính quyền
cách mạng vững mạnh, lãnh đạo phục hồi sản xuất và kiến thiết, dắt dẫn nhân dân đi
vào một xã hội mới - xã hội chủ nghĩa - chưa từng có bao giờ. Trong đấu tranh vũ
trang cũng như công tác xây dựng, Đảng tập dần thói quen cho Pa-ven chiến thắng.
Pa-ven từng bước một trưởng thành, trở nên một chiến sĩ cách mạng già dặn. Bệnh tật
mười chết một sống là trận thử thách cuối cùng. Pa-ven là thép đã tôi rồi nên đã thắng,
toàn thắng.
*
Cuốn sách của N. A-xtơ-rốp-xki trả lời chúng ta: "Thế nào là thép đã tôi?" Đồng chí
Liêu Thừa Chi, chủ tịch Liên đoàn thanh niên dân chủ Trung Quốc, vào năm 1950,
viết: "Vì ngọn cờ của chúng ta mà xung phong, mà bất khuất trước quân thù, những
việc đó tương đối chưa phải là hết sức khó khăn. Rất khó khăn như Pa-ven, còn sống
phút nào cũng đều là quên mình, chỉ nghĩ đến công tác, đến Đảng, đến nhân dân, đến
sự nghiệp của giai cấp vô sản, kiên quyết phấn đấu đến cùng, đó mới là việc khó mà
làm được thì đáng quí nhất".
Đọc Thép đã tôi thế đấy trước hết truyền cho chúng ta lỏng ham sống và ham chiến
đấu. Đấy là bản chất giai cấp của Pa-ven. Đấy là bản chất thanh niên của Pa-ven. Đấy
là phẩm chất cách mạng mà Đảng và đấu tranh thực tế đã xây dựng cho anh. Không
phải ngọn lửa rơm sốc nổi hay cái ngang tàng rởm của chủ nghĩa anh hùng cá nhân.
Một tinh thần ham sống và ham chiến đấu có nghĩa lý nhất, có cơ sở nhất. Không gì
mạnh bằng lòng tin tưởng của Pa-ven ở những mục đích chiến đấu của mình. Pa-ven
say mê đem toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân, hy sinh cá nhân của mình một cách
nồng nhiệt lãng mạn, không bao giờ do dự, không hề tính toán, tất cả vì sự nghiệp giai
cấp, vì hạnh phúc nhân loại. Không hiểu mục đích đấu tranh của Pa-ven, đảng tính
đấu tranh của Pa-ven thì chỉ cảm thấy đời Pa-ven đau khổ. Không, Pa-ven không cảm
thấy đau khổ, Pa-ven chỉ nghĩ đến khắc phục thống khổ. Pa-ven luôn luôn vui sướng
vì anh luôn luôn đấu tranh và luôn luôn thắng lợi. Đó là chủ nghĩa lạc quan của Paven. Đó là sức mạnh, đó là hạnh phúc của Pa-ven.
Thép đã tôi thế đấy là một khúc ca tươi đẹp của đời sống. Mỗi trang sách như cuốn
thêm máu chảy trong người đọc, nâng cao thêm nhiệt tình cách mạng, thúc giục chiến
đấu, thúc giục công tác.
Thép đã tôi thế đấy giải quyết cho chúng ta nhiều vấn đề nhân sinh quan mới, dạy
chúng ta biết yêu biết ghét một cách chính xác và sâu mạnh, khơi lên ở chúng ta
những tình cảm lớn, xây dựng cho chúng ta một quan niệm về tình yêu trong sáng.
Thép đã tôi thế đấy còn là một kho báu kinh nghiệm công tác cách mạng rất thực tế để
nhìn cho sáng hơn nhiều vấn đề mới mà cuộc sống đề ra cho mỗi tập thể và mỗi con
người, để thực hiện "nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ
thù nào cũng đánh thắng".
*
Nhà văn Xô Viết I-ly-a Ê-ren-bua gọi Thép đã đã tôi thế đấy là 'thánh kinh mới” của
thanh niên Xô Viết. Bà mẹ của nữ anh hùng Dôi-a đã từng cổ vũ cả một thế hệ thanh
niên thế giới chống phát xít trong đại chiến thế giới lần thứ hai, cho biết: "Thép đã tôi
thế đấy là sách gối đầu của con tôi".
Cuốn sách được nhiều người đọc nhất ở Liên Xô trong thời kỳ kháng chiến chống
Đức. Rất nhiều chứng cớ cụ thể tỏ ra là nó đã nêu gương sáng cho muôn vạn Pa-ven
mới. Giữa đại hội anh hùng chiến đấu Trung Quốc năm 1950, đồng chí Trương Minh,
một chiến sĩ giải phóng quân có nhiều thành tích, kiêm một nhà văn bộ đội trẻ, phát
biểu: "Đọc Thép đã tôi thế đấy đã để lại một ảnh hưởng sâu sắc cho đời cách mạng và
văn nghệ của tôi. Những sách như Thép đã tôi thế đấy nâng cao tinh thần chiến đấu và
phẩm chất con người". Ở nhiều nước dân chủ nhân dân, Thép đã tôi thế đấy được coi
là một tài liệu học tập của Đoàn thanh niên. Trên báo Tiền phong của thanh niên Pháp
đã đăng đi đăng lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết Pa-ven ấy. Thanh niên thế giới yêu mến
Pa-ven người anh đi trước của tất cả chúng ta, người anh thuộc thế hệ cách mạng
tháng Mười, thế hệ mở đường gian khổ nhất, anh dũng nhất và vẻ vang nhất.
Ở nước ta, trong cuộc đấu tranh yêu nước lâu dài, phần lớn thanh niên Việt Nam đã
được trải qua nhiều cảnh ngộ mà Pa-ven đã sống. Năm năm chống phát xít Nhật Pháp, chín năm chống xâm lược Pháp - Mỹ, một thế hệ thanh niên đông đảo nhất đã
chọn con đường của Pa-ven. Nhiều anh chị em của chúng ta đã nếm tra tấn, khủng bố
của nhà tù đế quốc Trong những vùng sau lưng địch, nhiều đồng chí và bạn thân của
chúng ta hy sinh bất khuất trước quân thù như Va-li-a. Trên các chiến trường Việt
Nam, biết bao Xê-ri-ô- gia đã bỏ mình và hàng vạn Giắc-ky sinh sôi nẩy nở. Dưới sự
lãnh đạo của Hồ chủ tịch và Đảng lao động Việt Nam, chúng ta sống những chiến đấu
của Pa-ven, những gian khổ của Pa-ven, cùng do một tình cảm cách mạng như Pa-ven
mà phấn đấu. Cả một thế hệ thanh niên Cách mạng tháng 8 lớn lên trong kháng chiến,
lớn lên cùng với chế độ dân chủ cộng hòa. Chúng ta cảm thấy Pa-ven rất gần với
mình. Thép đã tôi thế đấy gợi ý cho chúng ta đòi hỏi nền văn nghệ trẻ mới của nước
nhà phản ánh và đào sâu nhiều hơn nữa hình ảnh con người anh hùng mới Việt Nam.
Và trong khi chờ đợi, hình ảnh Pa-ven lúc này giúp chúng ta nhìn rõ chúng ta hơn,
sống lại những kinh nghiệm đã qua, củng cố và bồi bổ bài học của thực tế cách mạng,
sống mạnh hơn nữa cuộc đấu tranh vẻ vang và còn nhiều gian khổ ngày nay, càng
hăng hái, càng dũng cảm, tiếp tục những chiến đấu của Pa-ven, phát huy những thắng
lợi của Pa-ven, làm sáng tinh thần của Pa-ven hơn nữa.
Bản dịch tác phẩm lớn này, về căn bản không đầy đủ, trong phương pháp còn nhiều
thiết sót. Đầy lòng yêu mến và trân trọng với A-xtơ-rốp-xki, chúng tôi tự lấy làm chưa
thỏa mãn về công việc mình làm. Chỉ dám mong góp phần nhỏ mọn phục vụ nhu cầu
đọc sách ngày một lớn của bạn đọc trẻ tuổi nước nhà.
Bạn đọc trẻ tuổi đang giở trang sách này, xin giới thiệu với bạn anh Pa-ven, người bạn
thân, người đồng chí đi trước của chúng ta.
PHẦN 1 - CHƯƠNG 1
- Những đứa nào đến nhà tao đọc bài trước hôm nghi lễ, đứng dậy!
Người mặc áo dài cố đạo lừ mắt quát học trò. Mặt hắn phị mỡ, cổ đeo cây thập tự to
sù.
Cặp mắt ti hí mà dữ nhìn chòng chọc vào sáu đứa trò con, bốn trai và hai gái, vừa
đứng nhổm dậy. Mấy đứa trẻ khiếp sợ ngước mắt lấm lét nhìn hắn. Hắn chỉ tay về phía
các trò gái, ra lệnh:
- Những con bé kia, cho ngồi xuống.
Mấy trò gái trút hơi thở dài ngồi xuống. Cặp mắt lươn của lão cố Vát-xi-li vẫn nhìn
chằm chặp vào mấy đứa trò trai còn đứng đấy:
- Lại gần cha nào, các con ngoan của cha.
Hắn xô ghế, đứng lên, sấn đến chỗ mấy đứa nhỏ đang nép vào nhau.
- Bọn mày đứa nào hút thuốc, hở đồ nhãi?
Cả bốn lí nhí trả lời:
- Thưa cha, chúng con không ai hút thuốc ạ.
Lão cố đỏ mặt tía tai.
- Không hút thuốc à, đồ khốn nạn! Vậy thì đứa nào ném thuốc lá vào bột làm bánh
thánh? Không đứa nào hút à? Được, để tao xem. Lật túi ra! Mau lên ! Tao bảo: Lật túi
ra!
Ba đứa bắt đầu móc hết đồ lề trong túi bày ra mặt bàn. Lão cố khám từng li từng tí vải
lót túi, cố tìm một vết tích thuốc lá còn sót lại. Không thấy gì, lão quay ra hỏi đứa thứ
tư, một thằng bé mắt đen mặc áo khoác xám và quần xanh có vá ở đầu gối:
- Còn thằng này, tại sao mày cứ đứng như phỗng thế hả?
Thằng bé, mắt nhìn đầy vẻ căm tức, càu nhàu trả lời:
- Thưa cha, quần con không có túi.
Và tay nó sờ vào đường chỉ ở nẹp quần.
- À, à mày bảo mày không có túi hả? Mày ngỡ tao không biết đứa nào tinh nghịch làm
hỏng bột của tao phải không? Lần này nữa, mày tưởng tao vẫn cứ để cho mày học ở
đây đấy chắc? Không, ôn con ơi, việc này tao không để cho mày yên đâu. Hôm nọ,
mẹ mày lạy van mãi, tao mới làm phúc không đuổi mày. Nhưng lần này thì hết cách
rồi. Cút khỏi lớp!
Và lão tàn nhẫn xách tai đứa bé, tống ra ngoài hiên.
Cả lớp khiếp đảm ngồi im thin thít. Không ai hiểu tại sao thằng Pa-ven con nhà Ca-rơsa-ghin lại bị đuổi ra khỏi trường như thế. Chỉ có một mình Xéc-gây con nhà Bơ-rugiắc, bạn thân của Pa-ven, là đã trông thấy Pa-ven ném dúm thuốc mộc vào bột làm
bánh thánh của lão cố, trong bếp nhà lão ta, hôm bọn sáu trò chưa thuộc bài phải đến
nhà lão đọc bài đứng đợi lão ta ở đấy.
Pa-ven bị đuổi, ngồi ở bậc cuối thềm lớp học, vẻ mặt suy nghĩ. Về nhà biết nói làm
sao bây giờ? Nói thế nào với mẹ được? Mẹ chăm lo cho từng li từng tí mẹ vất vả đầu
tắt mặt tối, nấu bếp hầu hạ nhà lão thanh tra sở thuế.
Pa-ven nghẹn ngào trong cổ họng.
"Làm thế nào bây giờ? Chỉ tại lão cố trời đánh kia cả ! Mình không thể nào không
tương thuốc lá vào bột của lão ta. Chính Xéc-gây xui mình: "Cứ nhét vào đi cho đáng
đời đồ súc vật nhơ bẩn đó". Thế là mình nhét vào. Xéc-gây thì nó chẳng làm sao đâu,
còn mình, chắc chắn là bị đuổi".
Từ lâu, Pa-ven ghét cay ghét đắng lão cố, mà lão ta thì trù Pa-ven ra mặt. Một hôm vì
đánh nhau với thằng Mi-sa Lép-súc, Pa-ven đã bị lão phạt giam ở lớp và không được
ăn cơm chiều. Hôm đi phạt, vì không có người trông, sợ nó ngồi một mình trong lớp
lại nghịch, lão cố nhét Pa-ven vào lớp học trò lớn, ngồi ở hàng ghế cuối lớp đệ nhị.
Thầy giáo lớp đệ nhị, người bé nhỏ, khô đét, mặc áo vét-tông đen, đang giảng về trái
đất và các vì sao trên trời. Pa-ven há miệng ngồi nghe, rất lấy làm lạ. Ra trái đất đã có
từ hàng triệu năm nay và các vì sao trên trời hóa ra cũng giống trái đất. Pa-ven thấy kỳ
lạ quá, những muốn đứng lên thưa với thầy: "Điều thầy nói thật khác hẳn thánh sử" .
NhưngPa-ven không dám hỏi, sợ bị phạt.
Pa-ven vốn rất cừ về môn thánh sử, bao giờ cũng được lão cố cho điểm nhất. Cậu
thuộc làu làu kinh truyện Sấm truyền cũ và Sấm truyền mới, nhớ hết mọi chuyện
trong kinh Sáng-thế-kỷ. Từ hôm nghe thầy giáo giảng ngược hẳn với thánh kinh, Paven không yên dạ một tí nào, định bụng mang chuyện ấy hỏi lại lão cố Vát-xi-li, thì
gặp ngay hôm sau học bài về kinh thánh. Lão cố vừa đặt mình xuống ghế là Pa-ven
giơ tay liền. Được phép nói, Pa-ven đứng dậy:
- Thưa cha, sao thầy giáo lớp trên nói là trái đất có hàng triệu năm nay mà kinh thánh
thì lại dạy Chúa Lời sinh ra trái đất này mới có năm nghìn...
Pa-ven chưa kịp nói hết thì tiếng quát của lão cố đã rít lên ngắt lời:
- Mày nói sao, thằng khốn nạn? Mày học lời Chúa phán truyền như thế đấy phải
không?
Và Pa-ven chưa kịp mở miệng thì lão cố đã xông ngay đến, xách hai tai Pa-ven, dập
đầu cậu ta vào tường. Một phút sau cậu bé bị đòn đau hết vía và bị vứt ra ngoài hiên.
Về nhà, Pa-ven cũng bị mẹ đánh một trận nên thân.
Hôm sau, mẹ đến trường van nài lão cố, xin được cho Pa-ven lại vào học. Từ hôm ấy,
Pa-ven mang lòng căm thù lão cố hết sức. Thù và sợ. Xưa nay cậu không để ai làm
nhục mình. Cậu không quên được trận đòn oan ức ấy. Căm giận uất người mà cố nén.
Cậu đã phải chịu nhiều nỗi bực nữa vì lão cố Vát- xi-li: lão thường kiếm cớ rất nhỏ
đuổi Pa-ven ra cửa; có khi hàng tuần lễ bắt Pa-ven ngồi ở góc lớp quay mặt vào
tường. Lão lại thôi không gọi Pa-ven đọc bài ở lớp. Cho nên, trước ngày nghỉ lễ Phục
sinh vừa qua, Pa-ven mới phải nhập bọn với những trò kém đến nhà lão đọc gộp tất
cả bài để lấy điểm học kỳ ba tháng. Được dịp, Pa-ven mới nảy ra trò tinh nghịch : ném
thuốc lá vào bột làm bánh thánh trong bếp nhà lão ta.
Tuy không ai nhìn thấy, nhưng lão cố vẫn đoán biết ngay đứa nào nghịch rồi.
…Giờ ra chơi, trẻ con ùa ra sân và quây lấy Pa- ven. Pa-ven sa sầm nét mặt, cau mày
đứng yên. Xéc- gây ở lại trong lớp: cậu thấy mình cũng có can dự đến chuyện này,
song không làm thế nào để cứu bạn được.
Ông đốc Ê-phơ-rê-ma ngó đầu ra cửa sổ. Giọng nói to của ông ta làm Pa-ven giật nảy
mình. Ông quát lên:
- Đưa thằng Pa-ven lên đây ngay!
Trống ngực đánh thình thịch, Pa-ven đi lên buồng họp của các thầy giáo.
*
Lão chủ hàng cơm ngoài ga, người đứng tuổi, mặt tái ngắt, mắt lợn luộc, liếc nhìn Paven đứng nép vào bên mẹ.
- Nó lên mấy?
Bà mẹ đáp;
- Cháu mười hai.
- Được, để nó ở lại đây làm. Công nó thì tám rúp một tháng, cộng với ngày nào đi làm
thì được cơm nuôi nữa. Cách một ngày làm một ngày, tính mỗi ngày làm hai mươi bốn
tiếng liền. Và coi chừng nhất là nó đừng có nảy tính ăn cắp.
Bà mẹ hốt hoảng trả lời:
- Xin ông đừng lo, cháu không có tính tắt mắt đâu ạ. Tôi xin cam đoan với ông như
vậy.
- Thôi được. Cho nó vào làm ngay hôm nay.
Nói rồi quay sang phía mụ hầu bàn đứng cạnh, đằng sau quầy rượu, lão ta bảo:
- Mụ Di-na đâu? Dẫn nó vào chỗ rửa bát, nói với con Phơ-rô-xi-a giao cho nó làm
thay phần việc của con Gơ-ri-sa.
Mụ bán hàng bỏ con dao đang thái giò sấy xuống, gật đầu ra hiệu cho Pa-ven, rồi
bước qua phòng, đi đến cửa ngách vào chỗ rửa bát. Pa-ven đi theo mụ Di-na. Mẹ Paven cũng rảo bước theo con, rỉ tai dặn vội mấy lời:
- Chăm mà làm con nhé! Đừng để mẹ mang tai mang tiếng.
Bà mẹ buồn rầu nhìn theo con, rồi bước ra cửa. Trong buồng rửa bát, công việc tất tả.
Trên bàn, đĩa chất đống, dao dĩa ngổn ngang. Những người đàn bà, khăn lau vắt qua
vai, lau lau chùi chùi đĩa và dao dĩa.
Một đứa nhỏ tóc rối bờm xờm, không lớn hơn Pa- ven mấy, đang loay hoay đun hai
ấm tướng nước.
Gian nhà ngùn ngụt hơi nước từ chậu nước nóng rửa bát đĩa tỏa lên. Thoạt vào, Paven đã không thể nào nhìn rõ được mặt từng người đàn bà đang làm. Cậu ngơ ngác,
không biết đứng vào đâu, làm ăn ra sao. Mụ Di-na lại gần một chị rửa bát, kéo vai nói:
- Phơ-rô-xi-a, đây một chú bồi phụ mới vào, thay chân rửa bát của con Gơ-ri-sa. Mày
chỉ bảo cho nó làm.
Rồi quay lại phía Pa-ven và chỉ vào người tên gọi là Phơ-rô-xi-a ấy, mụ Di-na nói
thêm:
- Con này trông về rửa bát, nó bảo gì mày phải nghe theo.
Dứt lời, mụ Di-na quay gót trở ra ngoài quầy hàng.
- Vâng.
Pa-ven khẽ đáp lại và đưa mắt hỏi Phơ-rô-xi-a. Phơ-rô-xi-a lấy khàn lau mồ hôi trán,
nhìn Pa-ven từ đầu đến chân như để tính xem cậu bé làm được gì rồi vừa xắn lại một
bên tay ảo đã tuột xuống dưới khuỷu tay, vừa nói với Pa-ven, giọng thanh thanh, dễ
nghe:
- Việc của em chẳng có gì khó cả. Em nom thùng nước này, em đun nhỏ lửa, trông sao
cho lúc nào thùng nước cũng đầy nước sôi. Em chẻ củi nữa, rồi đến nom thêm cả hai
ấm nước chè cũng là việc của em. Sau này khi nào cần thì lau thêm dao dĩa và đi đổ
rác. Cũng khối việc, đủ làm bở hơi tai đấy, em ạ.
Phơ-rô-xi-a nói giọng vùng Cô-stơ-rôm hay kéo dài vần a; giọng nói, sắc mặt đỏ hây
hây và cái mũi cao nhọn của cô làm Pa-ven cũng thấy vui vui. "Cô này ngó bộ cũng
không dữ đâu"; - Pa-ven nghĩ bụng thế, rồi mạnh dạn mở miệng hỏi:
- Cô bảo cháu bây giờ phải làm gì trước?
Cả bếp phì cười. Tiếng cười phá lên làm át cả những lời cuối câu của Pa-ven.
- Ha ha ha!... Phơ-rô-xi-a mới vớ được cháu gọi bằng cô.
- Ha ha!
Chính Phơ-rô-xi-a cười to hơn mọi người. Thì ra hơi nước bốc mù lên làm Pa-ven
không trông rõ mặt cô ta. Phơ-rô-xi-a mới xấp xỉ mười tám tuổi thôi.
Ngượng quá, Pa-ven quay hỏi thằng bé cùng làm.
- Bây giờ mình phải làm gì trước, hở cậu?
Nó đã không trả lời, lại trêu Pa-ven thêm:
- Hỏi cô mày ấy, tao biết đâu đấy. Tao có ở đây đâu - Nói rồi, nó chạy ra cửa, vào
trong bếp mất.
Một bà rửa bát đã có tuổi lên tiếng:
- Mày lại đây giúp tao một tay lau dĩa. Các người lạ thật, thằng bé nó nói, có gì mà
cười. Đây này, giữ lấy. Bà vừa nói vừa đưa cho Pa-ven chiếc khăn lau.
- Lấy răng cắn một đầu khăn, lấy tay kéo đầu kia ra cho thẳng. Tay này cầm dĩa, cọ đi
cọ lại. Cốt nhất đừng để giắt bẩn ở kẽ dĩa. Để giắt bẩn thì khốn đấy, không phải
chuyện chơi đâu. Các ông khách ăn họ nhìn kỹ lắm, họ mà thấy dĩa bẩn thì vạ vào
thân đấy, con ạ! Bà chủ sẽ cho mày ra khỏi cửa ngay lập tức.
Pa-ven ngạc nhiên:
- Sao lại có bà chủ nữa à? Ở đây chỉ thấy ông chủ nhận cháu vào làm thôi cơ mà.
Bà già rửa bát phì cười:
- Ông chủ ở đây chỉ là một thứ bù nhìn thôi, con ạ. Bà ta mới là chủ đứng đầu trông
coi ở đây. Hôm nay bà ta không đến. Mày cứ làm rồi sẽ thấy.
Cửa mở, ba người bồi bàn đi vào, mỗi người bê một chồng đĩa bẩn. Một lão, mặt bạnh
vuông, mắt lé, vai rộng, nói bô bô:
- Trong bếp nhanh tay lên chứ! Chuyến tàu trưa sắp đến rồi, mà sao trong này làm rù
rờ thế.
Nhìn thấy chú bé Pa-ven, hắn hỏi:
- Đứa nào thế này?
- Em nó mới vào làm. - Phơ-rô-xi-a trả lời.
- À ! Mới vào này - Lão bồi bàn đập bàn tay nặng trịch của hắn lên vai Pa-ven, ẩy cậu
về phía mấy lò đun nước, lên giọng: - Nước lúc nào cũng phải có sẵn. Thế mà mày
thử trông xem, một lò tắt ngấm, lò kia thì lửa cũng sắp lụi. Hôm nay ông hãy tha cho
mày. Mai còn như thế, ông tống vào miệng. Hiểu chưa?
Không nói nửa lời, Pa-ven quay lại lò đun nước. Thế là bắt đầu cuộc đời đi làm. Chưa
bao giờ Pa- ven chăm việc như ngày đầu tiên đi làm này. Pa-ven đã hiểu: đây không
còn như ở nhà nữa. Ở nhà, mẹ bảo còn có thể không nghe. Chứ ở đây, lão mắt lé nó
đã nói trắng ra rồi: không nghe thì nó vả cho vào mặt thật.
Nồi nấu nước chè to phình như cái vại, đổ bồn thùng nước mới gọi là đầy. Không có
quạt lò, Pa-ven tháo chiếc giày ống quặp vào ống thông hơi, thổi lửa. Tia lửa từ các lò
bay ra tung tóe. Cả ngày cứ quanh quẩn với những xách nước đổ vào nồi, đổ nước rửa
bát, trông lò rồi lại tãi mấy khăn ướt lau bát ra hơ trên ấm nước nóng hỏng, làm mọi
việc người ta sai. Đêm đã khuya lắm Pa-ven mới lần xuống bếp, người mỏi nhừ.
Bà rửa bát A-ni-xi-a nhìn ra cửa, vừa khuất bóng Pa-ven, chép miệng nói:
- Thằng bé mới lạ chứ! Làm quần quật suốt ngày, tất ta tất tưởi như bị ma vật. Còn bé
thế mà đã phải đi làm chắc cũng phải vì thế nào đây.
Phơ-rô-xi-a ngắt lời:
- Thằng bé khá đáo để, làm ăn chẳng phải kèm gì cả.
Mụ Lu-sa bẻ lại:
- Cứ để yên rồi xem, chẳng chán ngay đấy. Đứa nào cũng thế, mới làm bao giờ chẳng
chăm...
Đến bảy giờ sáng, Pa-ven mới hết tội khổ sai, người rã rời sau một đêm mất ngủ và
chạy đi chạy lại luôn chân. Thằng bé đến đổi ca, dáng người dong dỏng, má bánh đúc,
hai con mắt xấc, nhìn thao láo.
Ngó xem đâu vào đấy cả rồi và thấy hai nồi nước vẫn đang nóng sôi, nó thọc tay vào
túi quần, chét một bãi nước bọt tướng, nhổ toẹt một cái, rồi trợn lòng trắng mắt lên
nhìn Pa-ven, nói giọng trịch thượng:
- Ê thằng nhóc! Sáng mai, sáu giờ đến thay tao.
Pa-ven ngạc nhiên hỏi lại:
- Sao lại sáu? Bảy giờ người ta mới đổi ca cơ mà?
- Người ta khác, mày khác. Tao bảo mày đến sáu giờ thì mày cứ đến sáu giờ. Nếu mày
cãi lại tao thì tao đập vỡ mặt mày ra. Liệu hồn, nhóc bọ, mới vào mà đã đòi lên mặt.
Những chị rửa bát đã tan tầm, chăm chú nhìn hai đứa bé cãi nhau. Giọng xấc xược,
thái độ ngang ngược của thằng bé kia làm Pa-ven tức đến tận cổ. Cậu tiến lại gần nó,
chực giã ngay, song lại ghìm được, sợ ngày đầu đi làm đã lôi thôi thì có khi bị đuổi.
Pa-ven sa sầm nét mặt, nén giận nói:
- Này, từ từ chứ, đừng chọc vào tao mà bỏng tay đấy, con ạ! Mai đúng bảy giờ tao mới
đến. Còn muốn chơi nhau, tao chẳng lép vế đâu. Muốn thử thì tao chẳng kiêng đâu
nhớ.
Thằng kia không ngờ Pa-ven cứng thế, nên chịu lép. Nó sửng sốt nhìn Pa-ven lúc ấy
đã nổi gân mặt, rồi lùi lại phía cái chậu, lẩm bẩm:
- Được, rồi xem ai biết tay ai.
Ngày đầu tiên đi làm thế là không xảy ra chuyện gì, Pa-ven yên trí ra về, lòng khoan
khoái như một người đã làm đầy đủ bổn phận, có quyền được nghỉ. Bây giờ đi làm
rồi, không ai còn dám bảo mình là ăn không ngồi rồi nữa.
Mặt trời ban mai uể oải ló ra khỏi tòa nhà máy cưa. Căn nhà Pa-ven lụp xụp hiện dần
ra trong sương sớm. Nhà đây rồi, ngay sau biệt thự nhà của Lê- sinh-ski.
Miệng huýt sáo, chân bước rào, Pa-ven nghĩ thầm:
"Mẹ chắc đã dậy rồi và mình thì đi làm về. Thôi thì bị đuổi học thế cũng chẳng khổ
lắm. Có được nó cho vào học lại thì cũng đến bị lão cố trời đánh làm mình điêu đứng
không sống yên được. Giờ thì ông cóc cần !"
Đang nghĩ lan man thì đến nhà. Pa-ven mở cửa, rồi sực nhớ: "Còn thằng bé tóc hoe
kia, mày sẽ biết tay ông, ông nhất định sẽ cho mày vỡ quai hàm".
Mẹ đang loay hoay đun nước ở sân. Thấy bóng con, bà hỏi một cách lo âu:
- Sao, công việc thế nào con, có khá không?
- Khá lắm, mẹ ạ.
Thấy mẹ như có chuyện gì muốn báo cho mình biết, Pa-ven hiểu ngay: ngó vào cửa
sổ mở rộng, cậu đã nhìn thấy cái lưng rộng của A-rơ-chom.
Bối rối, Pa-ven hỏi mẹ:
- Anh A-rơ-chom đã về đấy, hở mẹ?
- Ừ, về tối qua và ở hẳn nhà. Anh con sẽ về làm ở sở đầu máy xe lửa.
Pa-ven mở cửa, không còn đủ tự tin nữa.
Thân hình to lớn ngồi bên bàn, lưng quay về phía Pa-ven, bỗng ngoảnh lại, cặp mắt
nghiêm khắc của anh, dưới đôi lông mày đen rậm, nhìn Pa-ven chằm chằm.
- À, tay nghịch thuốc lá đã về đấy à! Chào cậu!
Nói chuyện với anh xem chừng chẳng êm ái chút nào đâu. Pa-ven nghĩ thầm: "Anh
biết tất cả rồi, ông ấy bực lên thể nào cũng tế cho một mẻ. Có khi còn nện cho nữa".
Pa-ven vẫn hơi sợ anh.
Nhưng A-rơ-chom không có vẻ gì muốn đánh em cả. Ngồi trên ghế đẩu, tay tỳ lên
bàn, anh chỉ nhìn em không rời mắt. Cái nhìn không ra vẻ nhạo mà cũng không ra vẻ
ghét, Pa-ven không biết đằng nào mà đoán.
Tiếng anh phá không khí yên lặng nặng nề:
- Hình như mày đã học xong cả rồi thì phải, mọi thứ khoa học đều tinh thông, nên bây
giờ mày bắt đầu chuyển về khoa rửa bát.
Pa-ven nhìn chằm chặp vào kẽ sàn gỗ, mắt như dán vào mũ một chiếc đinh đâm trồi
lên. Nhưng A- rơ-chom đã đứng lên đi vào bếp.
"Lần này thì thoát nạn rồi", - Pa-ven thở dài nhẹ nhõm.
Đến tối, ba mẹ con ngồi uống nước. Anh A-rơ-chom mới từ tốn hỏi lại câu chuyện
xảy ra ở lớp học. Pa- ven kể lại tất cả.
Giọng mẹ buồn rầu:
- Mày còn ít tuổi đã ngỗ ngược thế thì lớn lên làm gì được, hở con? - Rồi mẹ than
phiền: - Biết làm sao với nó được? Cả nhà nó chẳng giống tính ai. Trời ơi, con tội, con
nợ, nó làm khổ tôi bao nhiêu lần rồi.
Anh A-rơ-chom đẩy cái chén không ra, nói với Pa-ven:
- Nghe anh nói đây, cơ sự đã như thế ta không nhắc đến nữa. Nhưng từ nay em phải
thận trọng, nghĩ đến làm ăn, đừng có tơ tưởng đến trò nghịch ngợm. Chịu khó mà
làm. Nếu còn lung tung bị đuổi nữa thì tao sẽ sửa cho một trận hết đường chui. Hãy
nhớ lấy. Mày làm tội mẹ thế đã đủ rồi. Quỷ quái! Đến đâu là gây sự đến đấy, ở chỗ
nào cũng làm mang tai mang tiếng. Bây giờ thì phải thôi hẳn. Nếu làm ăn được, sang
năm sẽ xin cho vào học nghề trong sở đầu máy, không có cứ ở trong bếp hàng cơm
mãi với đống bát đĩa nhếch thì chẳng đời nào ra hồn con người được. Phải học lấy
một nghề. Bây giờ thì còn bé quá, chưa đủ tuổi, một năm nữa sẽ xin cho mày vào,
chắc người ta sẽ nhận. Còn tao đã được đổi về đây làm rồi. Mẹ sẽ thôi không đi làm
nữa. Không để cho mẹ cứ phải cúi lưng trước những quân khốn nạn ấy mãi. Còn mày
phải mở mắt ra, mày phải thành người mới được.
Anh nói xong, đứng dậy, với chiếc áo vắt ở lưng ghế khoác lên người và nói với mẹ:
- Con đi có việc độ một tiếng sẽ về.
Thân hình cao lớn, anh đi qua cửa phải cúi đầu xuống. Ra đến sân, anh nói vọng vào:
- Tao có mang về cho mày con dao và đôi giày. Nói mẹ đưa cho.
Hàng cơm nhà ga dọn hàng suốt ngày đêm, không lúc nào nghỉ.
Ga này có đường xe lửa đi sáu ngả. Nhà ga lúc nào cũng chật ních người, chỉ yên tĩnh
độ hai, ba tiếng ban đêm, giữa hai chuyến tàu. Hàng trăm chuyến tàu quân sự tránh
nhau ở đây, từ mặt trận về, hoặc đi ra mặt trận. Từ ngoài ấy, tàu chở về những con
người tàn phế, thương tật đầy mình. Ra mặt trận, thì nó lại đưa đi lớp lớp thịt tươi mặc
binh phục xám, những người lính không tên không tuổi.
Pa-ven làm ở hàng cơm này đã hai năm ròng. Xó bếp và chỗ rửa bát, đó là tất cả
những gì Pa-ven đã thấy trong hai năm trời nay. Trong hầm rộng này, hơn hai chục
người làm lụng bận tíu tít cả ngày. Mươi người bồi bàn chạy đi chạy lại từ ngoài hàng
vào bếp.
Lương Pa-ven bây giờ không phải là tám rúp nữa, mà lên mười rúp rồi. Hai năm đi
làm, người lớn lên, chắc ra, và nếm mùi đủ thứ công việc. Làm chân phụ bếp, người
bị khói hun nửa năm trời, rồi lại bị tống ra làm chân rửa bát. Lão bếp chủ đuổi Pa-ven
ra. Lão ta rất có quyền thế, chẳng ưa gì thằng bé cứng đầu cứng cổ mà lão cho là nó có
thể lấy dao ghè vào răng lão, nếu lão động đến người nó. Pa-ven chỉ được cái dai sức
làm quần quật, chứ không cũng bị tống ra cửa từ lâu rồi. Pa-ven làm không biết mệt,
về mặt làm ăn chịu khó thì không ai bì kịp được.
Đến giờ khách ăn đông thì Pa-ven làm hăng ra trò. Hàng chồng khay bát đĩa trên tay,
cứ ba chân bốn cẳng nhảy hàng bốn, năm bậc thang một, từ dưới chỗ rửa bát lên bếp,
rồi lại từ bếp xuống chỗ rửa bát.
Đêm đến, khách ăn vãn, bọn bồi bàn tụ tập nhau ở dưới nhà, vào gian buồng xép
cạnh bếp. Chúng thò cỗ bài ra, chơi canh bạc lớn, sát phạt nhau chí tử. Nhiều lần Paven trông thấy chúng xỉa ra hàng đống giấy bạc. Pa-ven trông thấy chúng có nhiều
tiền như thế chẳng lấy làm lạ. Pa-ven biết mỗi tên bồi bàn ấy vớ được mỗi ngày ba
bốn chục bạc "tiền diêm thuốc" khách cho, người dăm hào, kẻ một đồng. Có tiền là
chúng rượu, chè, cờ bạc. Pa-ven thấy rất ghét bọn chúng. Cậu nghĩ: "Quân khốn nạn!
Anh A-rơ-chom mình, thợ nguội hạng nhất, mà cũng chỉ có bốn mươi tám rúp một
tháng; mình thì mười rúp. Đồ chó chỉ có việc bày bàn mà vớ bở thế! Sẵn tiền lại nốc
rượu hay nướng vào bài bạc".
Pa-ven xem bọn bồi bàn cũng như bọn chủ hàng, là lũ người xa lạ đáng ghét. "Bọn
chó má ấy ở đây thì làm đầy tớ, cúi luồn thiên hạ, nhưng vợ con chúng nó ra phố thì
phè phỡn như bọn nhà giàu?". Đôi khi chúng dắt vợ con đến, con chúng nó diện
đồng phục học trò trung học, vợ chúng nó béo phị mỡ. Pa-ven nghĩ thầm: "Mấy thằng
sắp bàn cho người ta ăn, có khi còn nhiều tiền hơn khách hàng chúng hầu đấy!". Paven cũng chẳng lạ gì nữa, cả những chuyện thường xảy ra ban đêm trong các xó bếp,
và các buồng xép hàng cơm. Không người đàn bà rửa bát, hay đơm món ăn nào còn
làm lâu được, nếu dám từ chối không chịu bán thân lấy vài đồng rúp cho bất cứ kẻ
nào có quyền thế ở đây.
Pa-ven đã nhìn sâu vào cặn đáy cuộc đời. Cậu thấy như mình nhìn vào một cái hố
bẩn, mùi bùn đen cặn bã bốc lên trong khi cậu đang tuổi khao khát những chuyện
mới lạ, những chuyện chưa từng biết đến. A- rơ-chom không làm thế nào xin cho Paven vào học việc trong sở đầu máy xe lửa được. Người ta không lấy trẻ dưới mười lăm
tuổi. Pa-ven thì chờ mong ngày thoát khỏi hàng cơm. Tòa nhà đồ sộ của sở đầu máy
bằng đá ám khói thật có sức hấp dẫn đối với Pa-ven.
Pa-ven thường theo anh đi kiểm tra các toa tàu. Cậu cố tìm ra việc làm giúp anh.
Từ khi Phơ-rô-xi-a bị đuổi đi, cuộc đời càng buồn tẻ. Vắng mặt người con gái lúc nào
cũng vui cũng cười, Pa-ven càng cảm thấy sâu sắc thêm tình thân giữa cậu và Phơ-rôxi-a khăng khít biết nhường nào. Mỗi sáng, vào buồng rửa bát, không thấy Phơ-rô-xia, mà chỉ nghe toàn những lời la, tiếng chửi của những mụ tản cư mới vào làm, Pa-ven
cảm thấy sao mà trống trải, cô đơn quá.
Vào giờ vãn việc lúc đêm khuya, Pa-ven xếp nốt củi vào lò và ngồi xổm trước cửa
bếp, chớp mắt nhìn ngọn lửa, hơi ấm dễ chịu. Trong buồng rửa bát chẳng còn ai. Bất
giác Pa-ven lại nghĩ đến chuyện Phơ-rô- xi-a. Cái cảnh trông thấy hôm trước, hôm
nay nhớ lại rõ mồn một.
Hôm ấy cũng vào giờ này. Đêm khuya, Pa-ven lần cầu thang xuống bếp. Đến chỗ
ngoặt, Pa-ven tò mò leo lên đống củi để ngó vào buồng xép xem bọn đánh bạc. Canh
bạc đang gay go. Dê-li-va-nốp ngồi cầm cái, đang cay cú, mặt đỏ nhừ.
Có tiếng chân người ở cầu thang. Pa-ven quay lại: lão bồi bàn mắt lé Pơ-rô-khô-sơ-ca
từ trên đi xuống. Pa ven vội vàng chui xuống gầm cầu thang chờ cho lão đi khuất vào
bếp.
Pơ-rô-khô-sơ-ca đã đi khỏi chỗ ngoặt, Pa-ven nhìn thấy rõ cái lưng rộng và cái đầu to
của hắn. Trên cầu thang còn có tiếng chân nhẹ của ai chạy gấp: tiếng ai quen quen:
- Bác Pơ-rô-khô-sơ-ca, cho tôi hỏi tí!
Pơ-rô-khô-sơ-ca dừng chân, quay lại, ngước mắt lên, miệng càu nhàu:
- Hỏi gì?
Tiếng chân trên cầu thang bước xuống nữa, Pa- ven nhận ra Phơ-rô-xi-a.
Phơ-rô-xi-a nắm lấy tay áo lão bồi bàn, giọng thất thanh, hổn hển:
- Bác Pơ-rô-khô-sơ-ca, tiền lão quan hai đưa cho bác đâu cả rồi?
Pơ-rô-khô-sơ-ca giật tay lại, sừng sộ:
- Cái gì? Tiền à? Thếtao không đưa cho mày là gì?
- Nhưng ...
LỜI GIỚI THIỆU
PHẦN 1 - CHƯƠNG 1
PHẦN 1 - CHƯƠNG 2
PHẦN 1 - CHƯƠNG 3
PHẦN 1 - CHƯƠNG 4
PHẦN 1 - CHƯƠNG 5
PHẦN 1 - CHƯƠNG 6
PHẦN 1 - CHƯƠNG 7
PHẦN 1 - CHƯƠNG 8
PHẦN 1 - CHƯƠNG 9
PHẦN 2 - CHƯƠNG 1
PHẦN 2 - CHƯƠNG 2
PHẦN 2 - CHƯƠNG 3
PHẦN 2 - CHƯƠNG 4
PHẦN 2 - CHƯƠNG 5
PHẦN 2 - CHƯƠNG 6
PHẦN 2 - CHƯƠNG 7
PHẦN 2 - CHƯƠNG 8
PHẦN 2 - CHƯƠNG 9
LỜI GIỚI THIỆU
Thép đã tôi thế đấy không phải là một tác phẩm văn học chỉ nhìn đời mà viết. Tác giả
sống nó rồi mới viết nó. Nhân vật trung tâm Pa-ven chính là tác giả: Nhi-ca-lai A-xtơrốp- xki. Là một chiến sĩ cách mạng tháng Mười, ông đã sống một cách nồng cháy
nhất, như nhân vật Pa-ven của ông. Cũng không phải một cuốn tiểu thuyết tự thuật
thường vì hứng thú hay lợi ích cá nhân mà viết. A-xtơ-rốp-xki viết Thép đã tôi thế đấy
trên giường bệnh, trong khi bại liệt và mù, bệnh tật tàn phá chín phần mười cơ thể.
Chưa bao giờ có một nhà văn sáng tác trong những điều kiện gian khổ như vậy. Trong
lòng người viết phải có một nhiệt độ cảm hứng nồng nàn không biết bao nhiêu mà kể.
Nguồn cảm hứng ấy là sức mạnh tinh thần của người chiến sĩ cách mạng bị tàn phế,
đau đớn đến cùng cực, không chịu nằm đợi chết, không thể chịu được xa rời chiến
đấu, do đó phấn đấu trở thành một nhà văn và viết nên cuốn sách này. Càng yêu cuốn
sách, càng kính trọng nhà văn, càng tôn quí phẩm chất của con người cách mạng.
Thép đã tôi thế đấy có một địa vị đặc biệt trong lịch sử văn học Liên Xô và nền văn
học tiên tiến thế giới. Cách mạng tháng Mười thắng lợi, cuộc chiến đấu vĩ đại chưa
từng có bao giờ của nhân dân lao động trên một dải đất Liên bang Xô Viết rộng lớn
hàng ngày đề ra và đòi hỏi không biết bao nhiêu là anh hùng. Nhân dân Liên Xô,
nhân loại tiến bộ chờ đợi văn học phản ánh và đào sâu cho mình hình ảnh con người
anh hùng mới ấy. Lần đầu tiên trong văn học, N. A- xtơ-rốp-xki thu gọn được hình
ảnh con người mới trong nhân vật Pa-ven Ca-rơ-sa-ghin. Pa-ven không những khác
hẳn với những anh hùng của các thời đại trước. Khác hẳn với những tác phẩm văn
nghệ của những năm đầu cách mạng, thường ca ngợi lòng dũng cảm vô tổ chức, tả sức
mạnh tràn trề, lớn khỏe của quần chúng như một sức mạnh bột phát, tự nhiên. Thép
đã tôi thế đấy cho ta thấy từng con người trong một quần chúng rộng lớn nẩy nở như
thế nào, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Thép đã tôi thế đấy ghi lại cả một quá
trình tôi thép, bước đường gian khổ trưởng thành của thế hệ thanh niên Xô viết đầu
tiên.
Thép ở đây là Pa-ven, là Xê-ri-ô-gia, là Va-li-a, là Giác ky, cả một lớp thanh niên lao
động, vừa lớn lên thì gặp ngay cách mạng, ý thức giai cấp và tuổi trẻ bừng lên trong
bão táp của phong trào. Lò ngàn độ nóng tôi rèn họ là cuộc đấu tranh thật trường kỳ
gian khổ, thật là tự lực cánh sinh của cách mạng tháng Mười. Người thợ vĩ đại tôi rèn
thép ấy là Đảng cộng sản, ngọn cờ và bộ tham mưu của cách mạng. Đảng lần lượt
lãnh đạo chiến tranh, đảm bảo cung cấp, tổ chức vận tải, xây dựng đường sắt, trấn áp
tàn dư phản cách mạng, tổ chức lực lượng nhân dân rộng lớn và thiết lập chính quyền
cách mạng vững mạnh, lãnh đạo phục hồi sản xuất và kiến thiết, dắt dẫn nhân dân đi
vào một xã hội mới - xã hội chủ nghĩa - chưa từng có bao giờ. Trong đấu tranh vũ
trang cũng như công tác xây dựng, Đảng tập dần thói quen cho Pa-ven chiến thắng.
Pa-ven từng bước một trưởng thành, trở nên một chiến sĩ cách mạng già dặn. Bệnh tật
mười chết một sống là trận thử thách cuối cùng. Pa-ven là thép đã tôi rồi nên đã thắng,
toàn thắng.
*
Cuốn sách của N. A-xtơ-rốp-xki trả lời chúng ta: "Thế nào là thép đã tôi?" Đồng chí
Liêu Thừa Chi, chủ tịch Liên đoàn thanh niên dân chủ Trung Quốc, vào năm 1950,
viết: "Vì ngọn cờ của chúng ta mà xung phong, mà bất khuất trước quân thù, những
việc đó tương đối chưa phải là hết sức khó khăn. Rất khó khăn như Pa-ven, còn sống
phút nào cũng đều là quên mình, chỉ nghĩ đến công tác, đến Đảng, đến nhân dân, đến
sự nghiệp của giai cấp vô sản, kiên quyết phấn đấu đến cùng, đó mới là việc khó mà
làm được thì đáng quí nhất".
Đọc Thép đã tôi thế đấy trước hết truyền cho chúng ta lỏng ham sống và ham chiến
đấu. Đấy là bản chất giai cấp của Pa-ven. Đấy là bản chất thanh niên của Pa-ven. Đấy
là phẩm chất cách mạng mà Đảng và đấu tranh thực tế đã xây dựng cho anh. Không
phải ngọn lửa rơm sốc nổi hay cái ngang tàng rởm của chủ nghĩa anh hùng cá nhân.
Một tinh thần ham sống và ham chiến đấu có nghĩa lý nhất, có cơ sở nhất. Không gì
mạnh bằng lòng tin tưởng của Pa-ven ở những mục đích chiến đấu của mình. Pa-ven
say mê đem toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân, hy sinh cá nhân của mình một cách
nồng nhiệt lãng mạn, không bao giờ do dự, không hề tính toán, tất cả vì sự nghiệp giai
cấp, vì hạnh phúc nhân loại. Không hiểu mục đích đấu tranh của Pa-ven, đảng tính
đấu tranh của Pa-ven thì chỉ cảm thấy đời Pa-ven đau khổ. Không, Pa-ven không cảm
thấy đau khổ, Pa-ven chỉ nghĩ đến khắc phục thống khổ. Pa-ven luôn luôn vui sướng
vì anh luôn luôn đấu tranh và luôn luôn thắng lợi. Đó là chủ nghĩa lạc quan của Paven. Đó là sức mạnh, đó là hạnh phúc của Pa-ven.
Thép đã tôi thế đấy là một khúc ca tươi đẹp của đời sống. Mỗi trang sách như cuốn
thêm máu chảy trong người đọc, nâng cao thêm nhiệt tình cách mạng, thúc giục chiến
đấu, thúc giục công tác.
Thép đã tôi thế đấy giải quyết cho chúng ta nhiều vấn đề nhân sinh quan mới, dạy
chúng ta biết yêu biết ghét một cách chính xác và sâu mạnh, khơi lên ở chúng ta
những tình cảm lớn, xây dựng cho chúng ta một quan niệm về tình yêu trong sáng.
Thép đã tôi thế đấy còn là một kho báu kinh nghiệm công tác cách mạng rất thực tế để
nhìn cho sáng hơn nhiều vấn đề mới mà cuộc sống đề ra cho mỗi tập thể và mỗi con
người, để thực hiện "nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ
thù nào cũng đánh thắng".
*
Nhà văn Xô Viết I-ly-a Ê-ren-bua gọi Thép đã đã tôi thế đấy là 'thánh kinh mới” của
thanh niên Xô Viết. Bà mẹ của nữ anh hùng Dôi-a đã từng cổ vũ cả một thế hệ thanh
niên thế giới chống phát xít trong đại chiến thế giới lần thứ hai, cho biết: "Thép đã tôi
thế đấy là sách gối đầu của con tôi".
Cuốn sách được nhiều người đọc nhất ở Liên Xô trong thời kỳ kháng chiến chống
Đức. Rất nhiều chứng cớ cụ thể tỏ ra là nó đã nêu gương sáng cho muôn vạn Pa-ven
mới. Giữa đại hội anh hùng chiến đấu Trung Quốc năm 1950, đồng chí Trương Minh,
một chiến sĩ giải phóng quân có nhiều thành tích, kiêm một nhà văn bộ đội trẻ, phát
biểu: "Đọc Thép đã tôi thế đấy đã để lại một ảnh hưởng sâu sắc cho đời cách mạng và
văn nghệ của tôi. Những sách như Thép đã tôi thế đấy nâng cao tinh thần chiến đấu và
phẩm chất con người". Ở nhiều nước dân chủ nhân dân, Thép đã tôi thế đấy được coi
là một tài liệu học tập của Đoàn thanh niên. Trên báo Tiền phong của thanh niên Pháp
đã đăng đi đăng lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết Pa-ven ấy. Thanh niên thế giới yêu mến
Pa-ven người anh đi trước của tất cả chúng ta, người anh thuộc thế hệ cách mạng
tháng Mười, thế hệ mở đường gian khổ nhất, anh dũng nhất và vẻ vang nhất.
Ở nước ta, trong cuộc đấu tranh yêu nước lâu dài, phần lớn thanh niên Việt Nam đã
được trải qua nhiều cảnh ngộ mà Pa-ven đã sống. Năm năm chống phát xít Nhật Pháp, chín năm chống xâm lược Pháp - Mỹ, một thế hệ thanh niên đông đảo nhất đã
chọn con đường của Pa-ven. Nhiều anh chị em của chúng ta đã nếm tra tấn, khủng bố
của nhà tù đế quốc Trong những vùng sau lưng địch, nhiều đồng chí và bạn thân của
chúng ta hy sinh bất khuất trước quân thù như Va-li-a. Trên các chiến trường Việt
Nam, biết bao Xê-ri-ô- gia đã bỏ mình và hàng vạn Giắc-ky sinh sôi nẩy nở. Dưới sự
lãnh đạo của Hồ chủ tịch và Đảng lao động Việt Nam, chúng ta sống những chiến đấu
của Pa-ven, những gian khổ của Pa-ven, cùng do một tình cảm cách mạng như Pa-ven
mà phấn đấu. Cả một thế hệ thanh niên Cách mạng tháng 8 lớn lên trong kháng chiến,
lớn lên cùng với chế độ dân chủ cộng hòa. Chúng ta cảm thấy Pa-ven rất gần với
mình. Thép đã tôi thế đấy gợi ý cho chúng ta đòi hỏi nền văn nghệ trẻ mới của nước
nhà phản ánh và đào sâu nhiều hơn nữa hình ảnh con người anh hùng mới Việt Nam.
Và trong khi chờ đợi, hình ảnh Pa-ven lúc này giúp chúng ta nhìn rõ chúng ta hơn,
sống lại những kinh nghiệm đã qua, củng cố và bồi bổ bài học của thực tế cách mạng,
sống mạnh hơn nữa cuộc đấu tranh vẻ vang và còn nhiều gian khổ ngày nay, càng
hăng hái, càng dũng cảm, tiếp tục những chiến đấu của Pa-ven, phát huy những thắng
lợi của Pa-ven, làm sáng tinh thần của Pa-ven hơn nữa.
Bản dịch tác phẩm lớn này, về căn bản không đầy đủ, trong phương pháp còn nhiều
thiết sót. Đầy lòng yêu mến và trân trọng với A-xtơ-rốp-xki, chúng tôi tự lấy làm chưa
thỏa mãn về công việc mình làm. Chỉ dám mong góp phần nhỏ mọn phục vụ nhu cầu
đọc sách ngày một lớn của bạn đọc trẻ tuổi nước nhà.
Bạn đọc trẻ tuổi đang giở trang sách này, xin giới thiệu với bạn anh Pa-ven, người bạn
thân, người đồng chí đi trước của chúng ta.
PHẦN 1 - CHƯƠNG 1
- Những đứa nào đến nhà tao đọc bài trước hôm nghi lễ, đứng dậy!
Người mặc áo dài cố đạo lừ mắt quát học trò. Mặt hắn phị mỡ, cổ đeo cây thập tự to
sù.
Cặp mắt ti hí mà dữ nhìn chòng chọc vào sáu đứa trò con, bốn trai và hai gái, vừa
đứng nhổm dậy. Mấy đứa trẻ khiếp sợ ngước mắt lấm lét nhìn hắn. Hắn chỉ tay về phía
các trò gái, ra lệnh:
- Những con bé kia, cho ngồi xuống.
Mấy trò gái trút hơi thở dài ngồi xuống. Cặp mắt lươn của lão cố Vát-xi-li vẫn nhìn
chằm chặp vào mấy đứa trò trai còn đứng đấy:
- Lại gần cha nào, các con ngoan của cha.
Hắn xô ghế, đứng lên, sấn đến chỗ mấy đứa nhỏ đang nép vào nhau.
- Bọn mày đứa nào hút thuốc, hở đồ nhãi?
Cả bốn lí nhí trả lời:
- Thưa cha, chúng con không ai hút thuốc ạ.
Lão cố đỏ mặt tía tai.
- Không hút thuốc à, đồ khốn nạn! Vậy thì đứa nào ném thuốc lá vào bột làm bánh
thánh? Không đứa nào hút à? Được, để tao xem. Lật túi ra! Mau lên ! Tao bảo: Lật túi
ra!
Ba đứa bắt đầu móc hết đồ lề trong túi bày ra mặt bàn. Lão cố khám từng li từng tí vải
lót túi, cố tìm một vết tích thuốc lá còn sót lại. Không thấy gì, lão quay ra hỏi đứa thứ
tư, một thằng bé mắt đen mặc áo khoác xám và quần xanh có vá ở đầu gối:
- Còn thằng này, tại sao mày cứ đứng như phỗng thế hả?
Thằng bé, mắt nhìn đầy vẻ căm tức, càu nhàu trả lời:
- Thưa cha, quần con không có túi.
Và tay nó sờ vào đường chỉ ở nẹp quần.
- À, à mày bảo mày không có túi hả? Mày ngỡ tao không biết đứa nào tinh nghịch làm
hỏng bột của tao phải không? Lần này nữa, mày tưởng tao vẫn cứ để cho mày học ở
đây đấy chắc? Không, ôn con ơi, việc này tao không để cho mày yên đâu. Hôm nọ,
mẹ mày lạy van mãi, tao mới làm phúc không đuổi mày. Nhưng lần này thì hết cách
rồi. Cút khỏi lớp!
Và lão tàn nhẫn xách tai đứa bé, tống ra ngoài hiên.
Cả lớp khiếp đảm ngồi im thin thít. Không ai hiểu tại sao thằng Pa-ven con nhà Ca-rơsa-ghin lại bị đuổi ra khỏi trường như thế. Chỉ có một mình Xéc-gây con nhà Bơ-rugiắc, bạn thân của Pa-ven, là đã trông thấy Pa-ven ném dúm thuốc mộc vào bột làm
bánh thánh của lão cố, trong bếp nhà lão ta, hôm bọn sáu trò chưa thuộc bài phải đến
nhà lão đọc bài đứng đợi lão ta ở đấy.
Pa-ven bị đuổi, ngồi ở bậc cuối thềm lớp học, vẻ mặt suy nghĩ. Về nhà biết nói làm
sao bây giờ? Nói thế nào với mẹ được? Mẹ chăm lo cho từng li từng tí mẹ vất vả đầu
tắt mặt tối, nấu bếp hầu hạ nhà lão thanh tra sở thuế.
Pa-ven nghẹn ngào trong cổ họng.
"Làm thế nào bây giờ? Chỉ tại lão cố trời đánh kia cả ! Mình không thể nào không
tương thuốc lá vào bột của lão ta. Chính Xéc-gây xui mình: "Cứ nhét vào đi cho đáng
đời đồ súc vật nhơ bẩn đó". Thế là mình nhét vào. Xéc-gây thì nó chẳng làm sao đâu,
còn mình, chắc chắn là bị đuổi".
Từ lâu, Pa-ven ghét cay ghét đắng lão cố, mà lão ta thì trù Pa-ven ra mặt. Một hôm vì
đánh nhau với thằng Mi-sa Lép-súc, Pa-ven đã bị lão phạt giam ở lớp và không được
ăn cơm chiều. Hôm đi phạt, vì không có người trông, sợ nó ngồi một mình trong lớp
lại nghịch, lão cố nhét Pa-ven vào lớp học trò lớn, ngồi ở hàng ghế cuối lớp đệ nhị.
Thầy giáo lớp đệ nhị, người bé nhỏ, khô đét, mặc áo vét-tông đen, đang giảng về trái
đất và các vì sao trên trời. Pa-ven há miệng ngồi nghe, rất lấy làm lạ. Ra trái đất đã có
từ hàng triệu năm nay và các vì sao trên trời hóa ra cũng giống trái đất. Pa-ven thấy kỳ
lạ quá, những muốn đứng lên thưa với thầy: "Điều thầy nói thật khác hẳn thánh sử" .
NhưngPa-ven không dám hỏi, sợ bị phạt.
Pa-ven vốn rất cừ về môn thánh sử, bao giờ cũng được lão cố cho điểm nhất. Cậu
thuộc làu làu kinh truyện Sấm truyền cũ và Sấm truyền mới, nhớ hết mọi chuyện
trong kinh Sáng-thế-kỷ. Từ hôm nghe thầy giáo giảng ngược hẳn với thánh kinh, Paven không yên dạ một tí nào, định bụng mang chuyện ấy hỏi lại lão cố Vát-xi-li, thì
gặp ngay hôm sau học bài về kinh thánh. Lão cố vừa đặt mình xuống ghế là Pa-ven
giơ tay liền. Được phép nói, Pa-ven đứng dậy:
- Thưa cha, sao thầy giáo lớp trên nói là trái đất có hàng triệu năm nay mà kinh thánh
thì lại dạy Chúa Lời sinh ra trái đất này mới có năm nghìn...
Pa-ven chưa kịp nói hết thì tiếng quát của lão cố đã rít lên ngắt lời:
- Mày nói sao, thằng khốn nạn? Mày học lời Chúa phán truyền như thế đấy phải
không?
Và Pa-ven chưa kịp mở miệng thì lão cố đã xông ngay đến, xách hai tai Pa-ven, dập
đầu cậu ta vào tường. Một phút sau cậu bé bị đòn đau hết vía và bị vứt ra ngoài hiên.
Về nhà, Pa-ven cũng bị mẹ đánh một trận nên thân.
Hôm sau, mẹ đến trường van nài lão cố, xin được cho Pa-ven lại vào học. Từ hôm ấy,
Pa-ven mang lòng căm thù lão cố hết sức. Thù và sợ. Xưa nay cậu không để ai làm
nhục mình. Cậu không quên được trận đòn oan ức ấy. Căm giận uất người mà cố nén.
Cậu đã phải chịu nhiều nỗi bực nữa vì lão cố Vát- xi-li: lão thường kiếm cớ rất nhỏ
đuổi Pa-ven ra cửa; có khi hàng tuần lễ bắt Pa-ven ngồi ở góc lớp quay mặt vào
tường. Lão lại thôi không gọi Pa-ven đọc bài ở lớp. Cho nên, trước ngày nghỉ lễ Phục
sinh vừa qua, Pa-ven mới phải nhập bọn với những trò kém đến nhà lão đọc gộp tất
cả bài để lấy điểm học kỳ ba tháng. Được dịp, Pa-ven mới nảy ra trò tinh nghịch : ném
thuốc lá vào bột làm bánh thánh trong bếp nhà lão ta.
Tuy không ai nhìn thấy, nhưng lão cố vẫn đoán biết ngay đứa nào nghịch rồi.
…Giờ ra chơi, trẻ con ùa ra sân và quây lấy Pa- ven. Pa-ven sa sầm nét mặt, cau mày
đứng yên. Xéc- gây ở lại trong lớp: cậu thấy mình cũng có can dự đến chuyện này,
song không làm thế nào để cứu bạn được.
Ông đốc Ê-phơ-rê-ma ngó đầu ra cửa sổ. Giọng nói to của ông ta làm Pa-ven giật nảy
mình. Ông quát lên:
- Đưa thằng Pa-ven lên đây ngay!
Trống ngực đánh thình thịch, Pa-ven đi lên buồng họp của các thầy giáo.
*
Lão chủ hàng cơm ngoài ga, người đứng tuổi, mặt tái ngắt, mắt lợn luộc, liếc nhìn Paven đứng nép vào bên mẹ.
- Nó lên mấy?
Bà mẹ đáp;
- Cháu mười hai.
- Được, để nó ở lại đây làm. Công nó thì tám rúp một tháng, cộng với ngày nào đi làm
thì được cơm nuôi nữa. Cách một ngày làm một ngày, tính mỗi ngày làm hai mươi bốn
tiếng liền. Và coi chừng nhất là nó đừng có nảy tính ăn cắp.
Bà mẹ hốt hoảng trả lời:
- Xin ông đừng lo, cháu không có tính tắt mắt đâu ạ. Tôi xin cam đoan với ông như
vậy.
- Thôi được. Cho nó vào làm ngay hôm nay.
Nói rồi quay sang phía mụ hầu bàn đứng cạnh, đằng sau quầy rượu, lão ta bảo:
- Mụ Di-na đâu? Dẫn nó vào chỗ rửa bát, nói với con Phơ-rô-xi-a giao cho nó làm
thay phần việc của con Gơ-ri-sa.
Mụ bán hàng bỏ con dao đang thái giò sấy xuống, gật đầu ra hiệu cho Pa-ven, rồi
bước qua phòng, đi đến cửa ngách vào chỗ rửa bát. Pa-ven đi theo mụ Di-na. Mẹ Paven cũng rảo bước theo con, rỉ tai dặn vội mấy lời:
- Chăm mà làm con nhé! Đừng để mẹ mang tai mang tiếng.
Bà mẹ buồn rầu nhìn theo con, rồi bước ra cửa. Trong buồng rửa bát, công việc tất tả.
Trên bàn, đĩa chất đống, dao dĩa ngổn ngang. Những người đàn bà, khăn lau vắt qua
vai, lau lau chùi chùi đĩa và dao dĩa.
Một đứa nhỏ tóc rối bờm xờm, không lớn hơn Pa- ven mấy, đang loay hoay đun hai
ấm tướng nước.
Gian nhà ngùn ngụt hơi nước từ chậu nước nóng rửa bát đĩa tỏa lên. Thoạt vào, Paven đã không thể nào nhìn rõ được mặt từng người đàn bà đang làm. Cậu ngơ ngác,
không biết đứng vào đâu, làm ăn ra sao. Mụ Di-na lại gần một chị rửa bát, kéo vai nói:
- Phơ-rô-xi-a, đây một chú bồi phụ mới vào, thay chân rửa bát của con Gơ-ri-sa. Mày
chỉ bảo cho nó làm.
Rồi quay lại phía Pa-ven và chỉ vào người tên gọi là Phơ-rô-xi-a ấy, mụ Di-na nói
thêm:
- Con này trông về rửa bát, nó bảo gì mày phải nghe theo.
Dứt lời, mụ Di-na quay gót trở ra ngoài quầy hàng.
- Vâng.
Pa-ven khẽ đáp lại và đưa mắt hỏi Phơ-rô-xi-a. Phơ-rô-xi-a lấy khàn lau mồ hôi trán,
nhìn Pa-ven từ đầu đến chân như để tính xem cậu bé làm được gì rồi vừa xắn lại một
bên tay ảo đã tuột xuống dưới khuỷu tay, vừa nói với Pa-ven, giọng thanh thanh, dễ
nghe:
- Việc của em chẳng có gì khó cả. Em nom thùng nước này, em đun nhỏ lửa, trông sao
cho lúc nào thùng nước cũng đầy nước sôi. Em chẻ củi nữa, rồi đến nom thêm cả hai
ấm nước chè cũng là việc của em. Sau này khi nào cần thì lau thêm dao dĩa và đi đổ
rác. Cũng khối việc, đủ làm bở hơi tai đấy, em ạ.
Phơ-rô-xi-a nói giọng vùng Cô-stơ-rôm hay kéo dài vần a; giọng nói, sắc mặt đỏ hây
hây và cái mũi cao nhọn của cô làm Pa-ven cũng thấy vui vui. "Cô này ngó bộ cũng
không dữ đâu"; - Pa-ven nghĩ bụng thế, rồi mạnh dạn mở miệng hỏi:
- Cô bảo cháu bây giờ phải làm gì trước?
Cả bếp phì cười. Tiếng cười phá lên làm át cả những lời cuối câu của Pa-ven.
- Ha ha ha!... Phơ-rô-xi-a mới vớ được cháu gọi bằng cô.
- Ha ha!
Chính Phơ-rô-xi-a cười to hơn mọi người. Thì ra hơi nước bốc mù lên làm Pa-ven
không trông rõ mặt cô ta. Phơ-rô-xi-a mới xấp xỉ mười tám tuổi thôi.
Ngượng quá, Pa-ven quay hỏi thằng bé cùng làm.
- Bây giờ mình phải làm gì trước, hở cậu?
Nó đã không trả lời, lại trêu Pa-ven thêm:
- Hỏi cô mày ấy, tao biết đâu đấy. Tao có ở đây đâu - Nói rồi, nó chạy ra cửa, vào
trong bếp mất.
Một bà rửa bát đã có tuổi lên tiếng:
- Mày lại đây giúp tao một tay lau dĩa. Các người lạ thật, thằng bé nó nói, có gì mà
cười. Đây này, giữ lấy. Bà vừa nói vừa đưa cho Pa-ven chiếc khăn lau.
- Lấy răng cắn một đầu khăn, lấy tay kéo đầu kia ra cho thẳng. Tay này cầm dĩa, cọ đi
cọ lại. Cốt nhất đừng để giắt bẩn ở kẽ dĩa. Để giắt bẩn thì khốn đấy, không phải
chuyện chơi đâu. Các ông khách ăn họ nhìn kỹ lắm, họ mà thấy dĩa bẩn thì vạ vào
thân đấy, con ạ! Bà chủ sẽ cho mày ra khỏi cửa ngay lập tức.
Pa-ven ngạc nhiên:
- Sao lại có bà chủ nữa à? Ở đây chỉ thấy ông chủ nhận cháu vào làm thôi cơ mà.
Bà già rửa bát phì cười:
- Ông chủ ở đây chỉ là một thứ bù nhìn thôi, con ạ. Bà ta mới là chủ đứng đầu trông
coi ở đây. Hôm nay bà ta không đến. Mày cứ làm rồi sẽ thấy.
Cửa mở, ba người bồi bàn đi vào, mỗi người bê một chồng đĩa bẩn. Một lão, mặt bạnh
vuông, mắt lé, vai rộng, nói bô bô:
- Trong bếp nhanh tay lên chứ! Chuyến tàu trưa sắp đến rồi, mà sao trong này làm rù
rờ thế.
Nhìn thấy chú bé Pa-ven, hắn hỏi:
- Đứa nào thế này?
- Em nó mới vào làm. - Phơ-rô-xi-a trả lời.
- À ! Mới vào này - Lão bồi bàn đập bàn tay nặng trịch của hắn lên vai Pa-ven, ẩy cậu
về phía mấy lò đun nước, lên giọng: - Nước lúc nào cũng phải có sẵn. Thế mà mày
thử trông xem, một lò tắt ngấm, lò kia thì lửa cũng sắp lụi. Hôm nay ông hãy tha cho
mày. Mai còn như thế, ông tống vào miệng. Hiểu chưa?
Không nói nửa lời, Pa-ven quay lại lò đun nước. Thế là bắt đầu cuộc đời đi làm. Chưa
bao giờ Pa- ven chăm việc như ngày đầu tiên đi làm này. Pa-ven đã hiểu: đây không
còn như ở nhà nữa. Ở nhà, mẹ bảo còn có thể không nghe. Chứ ở đây, lão mắt lé nó
đã nói trắng ra rồi: không nghe thì nó vả cho vào mặt thật.
Nồi nấu nước chè to phình như cái vại, đổ bồn thùng nước mới gọi là đầy. Không có
quạt lò, Pa-ven tháo chiếc giày ống quặp vào ống thông hơi, thổi lửa. Tia lửa từ các lò
bay ra tung tóe. Cả ngày cứ quanh quẩn với những xách nước đổ vào nồi, đổ nước rửa
bát, trông lò rồi lại tãi mấy khăn ướt lau bát ra hơ trên ấm nước nóng hỏng, làm mọi
việc người ta sai. Đêm đã khuya lắm Pa-ven mới lần xuống bếp, người mỏi nhừ.
Bà rửa bát A-ni-xi-a nhìn ra cửa, vừa khuất bóng Pa-ven, chép miệng nói:
- Thằng bé mới lạ chứ! Làm quần quật suốt ngày, tất ta tất tưởi như bị ma vật. Còn bé
thế mà đã phải đi làm chắc cũng phải vì thế nào đây.
Phơ-rô-xi-a ngắt lời:
- Thằng bé khá đáo để, làm ăn chẳng phải kèm gì cả.
Mụ Lu-sa bẻ lại:
- Cứ để yên rồi xem, chẳng chán ngay đấy. Đứa nào cũng thế, mới làm bao giờ chẳng
chăm...
Đến bảy giờ sáng, Pa-ven mới hết tội khổ sai, người rã rời sau một đêm mất ngủ và
chạy đi chạy lại luôn chân. Thằng bé đến đổi ca, dáng người dong dỏng, má bánh đúc,
hai con mắt xấc, nhìn thao láo.
Ngó xem đâu vào đấy cả rồi và thấy hai nồi nước vẫn đang nóng sôi, nó thọc tay vào
túi quần, chét một bãi nước bọt tướng, nhổ toẹt một cái, rồi trợn lòng trắng mắt lên
nhìn Pa-ven, nói giọng trịch thượng:
- Ê thằng nhóc! Sáng mai, sáu giờ đến thay tao.
Pa-ven ngạc nhiên hỏi lại:
- Sao lại sáu? Bảy giờ người ta mới đổi ca cơ mà?
- Người ta khác, mày khác. Tao bảo mày đến sáu giờ thì mày cứ đến sáu giờ. Nếu mày
cãi lại tao thì tao đập vỡ mặt mày ra. Liệu hồn, nhóc bọ, mới vào mà đã đòi lên mặt.
Những chị rửa bát đã tan tầm, chăm chú nhìn hai đứa bé cãi nhau. Giọng xấc xược,
thái độ ngang ngược của thằng bé kia làm Pa-ven tức đến tận cổ. Cậu tiến lại gần nó,
chực giã ngay, song lại ghìm được, sợ ngày đầu đi làm đã lôi thôi thì có khi bị đuổi.
Pa-ven sa sầm nét mặt, nén giận nói:
- Này, từ từ chứ, đừng chọc vào tao mà bỏng tay đấy, con ạ! Mai đúng bảy giờ tao mới
đến. Còn muốn chơi nhau, tao chẳng lép vế đâu. Muốn thử thì tao chẳng kiêng đâu
nhớ.
Thằng kia không ngờ Pa-ven cứng thế, nên chịu lép. Nó sửng sốt nhìn Pa-ven lúc ấy
đã nổi gân mặt, rồi lùi lại phía cái chậu, lẩm bẩm:
- Được, rồi xem ai biết tay ai.
Ngày đầu tiên đi làm thế là không xảy ra chuyện gì, Pa-ven yên trí ra về, lòng khoan
khoái như một người đã làm đầy đủ bổn phận, có quyền được nghỉ. Bây giờ đi làm
rồi, không ai còn dám bảo mình là ăn không ngồi rồi nữa.
Mặt trời ban mai uể oải ló ra khỏi tòa nhà máy cưa. Căn nhà Pa-ven lụp xụp hiện dần
ra trong sương sớm. Nhà đây rồi, ngay sau biệt thự nhà của Lê- sinh-ski.
Miệng huýt sáo, chân bước rào, Pa-ven nghĩ thầm:
"Mẹ chắc đã dậy rồi và mình thì đi làm về. Thôi thì bị đuổi học thế cũng chẳng khổ
lắm. Có được nó cho vào học lại thì cũng đến bị lão cố trời đánh làm mình điêu đứng
không sống yên được. Giờ thì ông cóc cần !"
Đang nghĩ lan man thì đến nhà. Pa-ven mở cửa, rồi sực nhớ: "Còn thằng bé tóc hoe
kia, mày sẽ biết tay ông, ông nhất định sẽ cho mày vỡ quai hàm".
Mẹ đang loay hoay đun nước ở sân. Thấy bóng con, bà hỏi một cách lo âu:
- Sao, công việc thế nào con, có khá không?
- Khá lắm, mẹ ạ.
Thấy mẹ như có chuyện gì muốn báo cho mình biết, Pa-ven hiểu ngay: ngó vào cửa
sổ mở rộng, cậu đã nhìn thấy cái lưng rộng của A-rơ-chom.
Bối rối, Pa-ven hỏi mẹ:
- Anh A-rơ-chom đã về đấy, hở mẹ?
- Ừ, về tối qua và ở hẳn nhà. Anh con sẽ về làm ở sở đầu máy xe lửa.
Pa-ven mở cửa, không còn đủ tự tin nữa.
Thân hình to lớn ngồi bên bàn, lưng quay về phía Pa-ven, bỗng ngoảnh lại, cặp mắt
nghiêm khắc của anh, dưới đôi lông mày đen rậm, nhìn Pa-ven chằm chằm.
- À, tay nghịch thuốc lá đã về đấy à! Chào cậu!
Nói chuyện với anh xem chừng chẳng êm ái chút nào đâu. Pa-ven nghĩ thầm: "Anh
biết tất cả rồi, ông ấy bực lên thể nào cũng tế cho một mẻ. Có khi còn nện cho nữa".
Pa-ven vẫn hơi sợ anh.
Nhưng A-rơ-chom không có vẻ gì muốn đánh em cả. Ngồi trên ghế đẩu, tay tỳ lên
bàn, anh chỉ nhìn em không rời mắt. Cái nhìn không ra vẻ nhạo mà cũng không ra vẻ
ghét, Pa-ven không biết đằng nào mà đoán.
Tiếng anh phá không khí yên lặng nặng nề:
- Hình như mày đã học xong cả rồi thì phải, mọi thứ khoa học đều tinh thông, nên bây
giờ mày bắt đầu chuyển về khoa rửa bát.
Pa-ven nhìn chằm chặp vào kẽ sàn gỗ, mắt như dán vào mũ một chiếc đinh đâm trồi
lên. Nhưng A- rơ-chom đã đứng lên đi vào bếp.
"Lần này thì thoát nạn rồi", - Pa-ven thở dài nhẹ nhõm.
Đến tối, ba mẹ con ngồi uống nước. Anh A-rơ-chom mới từ tốn hỏi lại câu chuyện
xảy ra ở lớp học. Pa- ven kể lại tất cả.
Giọng mẹ buồn rầu:
- Mày còn ít tuổi đã ngỗ ngược thế thì lớn lên làm gì được, hở con? - Rồi mẹ than
phiền: - Biết làm sao với nó được? Cả nhà nó chẳng giống tính ai. Trời ơi, con tội, con
nợ, nó làm khổ tôi bao nhiêu lần rồi.
Anh A-rơ-chom đẩy cái chén không ra, nói với Pa-ven:
- Nghe anh nói đây, cơ sự đã như thế ta không nhắc đến nữa. Nhưng từ nay em phải
thận trọng, nghĩ đến làm ăn, đừng có tơ tưởng đến trò nghịch ngợm. Chịu khó mà
làm. Nếu còn lung tung bị đuổi nữa thì tao sẽ sửa cho một trận hết đường chui. Hãy
nhớ lấy. Mày làm tội mẹ thế đã đủ rồi. Quỷ quái! Đến đâu là gây sự đến đấy, ở chỗ
nào cũng làm mang tai mang tiếng. Bây giờ thì phải thôi hẳn. Nếu làm ăn được, sang
năm sẽ xin cho vào học nghề trong sở đầu máy, không có cứ ở trong bếp hàng cơm
mãi với đống bát đĩa nhếch thì chẳng đời nào ra hồn con người được. Phải học lấy
một nghề. Bây giờ thì còn bé quá, chưa đủ tuổi, một năm nữa sẽ xin cho mày vào,
chắc người ta sẽ nhận. Còn tao đã được đổi về đây làm rồi. Mẹ sẽ thôi không đi làm
nữa. Không để cho mẹ cứ phải cúi lưng trước những quân khốn nạn ấy mãi. Còn mày
phải mở mắt ra, mày phải thành người mới được.
Anh nói xong, đứng dậy, với chiếc áo vắt ở lưng ghế khoác lên người và nói với mẹ:
- Con đi có việc độ một tiếng sẽ về.
Thân hình cao lớn, anh đi qua cửa phải cúi đầu xuống. Ra đến sân, anh nói vọng vào:
- Tao có mang về cho mày con dao và đôi giày. Nói mẹ đưa cho.
Hàng cơm nhà ga dọn hàng suốt ngày đêm, không lúc nào nghỉ.
Ga này có đường xe lửa đi sáu ngả. Nhà ga lúc nào cũng chật ních người, chỉ yên tĩnh
độ hai, ba tiếng ban đêm, giữa hai chuyến tàu. Hàng trăm chuyến tàu quân sự tránh
nhau ở đây, từ mặt trận về, hoặc đi ra mặt trận. Từ ngoài ấy, tàu chở về những con
người tàn phế, thương tật đầy mình. Ra mặt trận, thì nó lại đưa đi lớp lớp thịt tươi mặc
binh phục xám, những người lính không tên không tuổi.
Pa-ven làm ở hàng cơm này đã hai năm ròng. Xó bếp và chỗ rửa bát, đó là tất cả
những gì Pa-ven đã thấy trong hai năm trời nay. Trong hầm rộng này, hơn hai chục
người làm lụng bận tíu tít cả ngày. Mươi người bồi bàn chạy đi chạy lại từ ngoài hàng
vào bếp.
Lương Pa-ven bây giờ không phải là tám rúp nữa, mà lên mười rúp rồi. Hai năm đi
làm, người lớn lên, chắc ra, và nếm mùi đủ thứ công việc. Làm chân phụ bếp, người
bị khói hun nửa năm trời, rồi lại bị tống ra làm chân rửa bát. Lão bếp chủ đuổi Pa-ven
ra. Lão ta rất có quyền thế, chẳng ưa gì thằng bé cứng đầu cứng cổ mà lão cho là nó có
thể lấy dao ghè vào răng lão, nếu lão động đến người nó. Pa-ven chỉ được cái dai sức
làm quần quật, chứ không cũng bị tống ra cửa từ lâu rồi. Pa-ven làm không biết mệt,
về mặt làm ăn chịu khó thì không ai bì kịp được.
Đến giờ khách ăn đông thì Pa-ven làm hăng ra trò. Hàng chồng khay bát đĩa trên tay,
cứ ba chân bốn cẳng nhảy hàng bốn, năm bậc thang một, từ dưới chỗ rửa bát lên bếp,
rồi lại từ bếp xuống chỗ rửa bát.
Đêm đến, khách ăn vãn, bọn bồi bàn tụ tập nhau ở dưới nhà, vào gian buồng xép
cạnh bếp. Chúng thò cỗ bài ra, chơi canh bạc lớn, sát phạt nhau chí tử. Nhiều lần Paven trông thấy chúng xỉa ra hàng đống giấy bạc. Pa-ven trông thấy chúng có nhiều
tiền như thế chẳng lấy làm lạ. Pa-ven biết mỗi tên bồi bàn ấy vớ được mỗi ngày ba
bốn chục bạc "tiền diêm thuốc" khách cho, người dăm hào, kẻ một đồng. Có tiền là
chúng rượu, chè, cờ bạc. Pa-ven thấy rất ghét bọn chúng. Cậu nghĩ: "Quân khốn nạn!
Anh A-rơ-chom mình, thợ nguội hạng nhất, mà cũng chỉ có bốn mươi tám rúp một
tháng; mình thì mười rúp. Đồ chó chỉ có việc bày bàn mà vớ bở thế! Sẵn tiền lại nốc
rượu hay nướng vào bài bạc".
Pa-ven xem bọn bồi bàn cũng như bọn chủ hàng, là lũ người xa lạ đáng ghét. "Bọn
chó má ấy ở đây thì làm đầy tớ, cúi luồn thiên hạ, nhưng vợ con chúng nó ra phố thì
phè phỡn như bọn nhà giàu?". Đôi khi chúng dắt vợ con đến, con chúng nó diện
đồng phục học trò trung học, vợ chúng nó béo phị mỡ. Pa-ven nghĩ thầm: "Mấy thằng
sắp bàn cho người ta ăn, có khi còn nhiều tiền hơn khách hàng chúng hầu đấy!". Paven cũng chẳng lạ gì nữa, cả những chuyện thường xảy ra ban đêm trong các xó bếp,
và các buồng xép hàng cơm. Không người đàn bà rửa bát, hay đơm món ăn nào còn
làm lâu được, nếu dám từ chối không chịu bán thân lấy vài đồng rúp cho bất cứ kẻ
nào có quyền thế ở đây.
Pa-ven đã nhìn sâu vào cặn đáy cuộc đời. Cậu thấy như mình nhìn vào một cái hố
bẩn, mùi bùn đen cặn bã bốc lên trong khi cậu đang tuổi khao khát những chuyện
mới lạ, những chuyện chưa từng biết đến. A- rơ-chom không làm thế nào xin cho Paven vào học việc trong sở đầu máy xe lửa được. Người ta không lấy trẻ dưới mười lăm
tuổi. Pa-ven thì chờ mong ngày thoát khỏi hàng cơm. Tòa nhà đồ sộ của sở đầu máy
bằng đá ám khói thật có sức hấp dẫn đối với Pa-ven.
Pa-ven thường theo anh đi kiểm tra các toa tàu. Cậu cố tìm ra việc làm giúp anh.
Từ khi Phơ-rô-xi-a bị đuổi đi, cuộc đời càng buồn tẻ. Vắng mặt người con gái lúc nào
cũng vui cũng cười, Pa-ven càng cảm thấy sâu sắc thêm tình thân giữa cậu và Phơ-rôxi-a khăng khít biết nhường nào. Mỗi sáng, vào buồng rửa bát, không thấy Phơ-rô-xia, mà chỉ nghe toàn những lời la, tiếng chửi của những mụ tản cư mới vào làm, Pa-ven
cảm thấy sao mà trống trải, cô đơn quá.
Vào giờ vãn việc lúc đêm khuya, Pa-ven xếp nốt củi vào lò và ngồi xổm trước cửa
bếp, chớp mắt nhìn ngọn lửa, hơi ấm dễ chịu. Trong buồng rửa bát chẳng còn ai. Bất
giác Pa-ven lại nghĩ đến chuyện Phơ-rô- xi-a. Cái cảnh trông thấy hôm trước, hôm
nay nhớ lại rõ mồn một.
Hôm ấy cũng vào giờ này. Đêm khuya, Pa-ven lần cầu thang xuống bếp. Đến chỗ
ngoặt, Pa-ven tò mò leo lên đống củi để ngó vào buồng xép xem bọn đánh bạc. Canh
bạc đang gay go. Dê-li-va-nốp ngồi cầm cái, đang cay cú, mặt đỏ nhừ.
Có tiếng chân người ở cầu thang. Pa-ven quay lại: lão bồi bàn mắt lé Pơ-rô-khô-sơ-ca
từ trên đi xuống. Pa ven vội vàng chui xuống gầm cầu thang chờ cho lão đi khuất vào
bếp.
Pơ-rô-khô-sơ-ca đã đi khỏi chỗ ngoặt, Pa-ven nhìn thấy rõ cái lưng rộng và cái đầu to
của hắn. Trên cầu thang còn có tiếng chân nhẹ của ai chạy gấp: tiếng ai quen quen:
- Bác Pơ-rô-khô-sơ-ca, cho tôi hỏi tí!
Pơ-rô-khô-sơ-ca dừng chân, quay lại, ngước mắt lên, miệng càu nhàu:
- Hỏi gì?
Tiếng chân trên cầu thang bước xuống nữa, Pa- ven nhận ra Phơ-rô-xi-a.
Phơ-rô-xi-a nắm lấy tay áo lão bồi bàn, giọng thất thanh, hổn hển:
- Bác Pơ-rô-khô-sơ-ca, tiền lão quan hai đưa cho bác đâu cả rồi?
Pơ-rô-khô-sơ-ca giật tay lại, sừng sộ:
- Cái gì? Tiền à? Thếtao không đưa cho mày là gì?
- Nhưng ...
 
Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân





