HÀNH KHÚC TRƯỜNG TRẦN QUÝ CÁP HỘI AN
Thế Giới Khi Loài Người Biến Mất

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 15h:49' 17-11-2024
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 15h:49' 17-11-2024
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
Phần mở đầu. CÔNG ÁN LOÀI KHỈ
PHẦN I
Chương 1. LÀN HƯƠNG ĐỊA ĐÀNG CÒN SÓT LẠI
Chương 2. SAN BẰNG NHÀ CỬA
Chương 3. THÀNH PHỐ PHI NHÂN LOẠI
Chương 4. THẾ GIỚI TRƯỚC KHI CHÚNG TA XUẤT HIỆN
Chương 5. BẦY THÚ ĐÃ MẤT
Chương 6. NGHỊCH LÝ CHÂU PHI
PHẦN II
Chương 7. NHỮNG CÔNG TRÌNH SỤP ĐỔ
Chương 8. NHỮNG THỨ CÒN XÓT LẠI
Chương 9. CÁC HỢP CHẤT CAO PHÂN TỬ BẤT DIỆT
Chương 10. ĐƯỜNG DẪN DẦU KHÍ
Chương 11. THẾ GIỚI THIẾU VẮNG NÔNG TRẠI
PHẦN 3
Chương 12. SỐ PHẬN CỦA NHỮNG KỲ QUAN THẾ GIỚI CỔ VÀ
HIỆN ĐẠI
Chương 13. THẾ GIỚI KHÔNG CÒN CHIẾN TRANH
***
Chương 14. BẦU TRỜI KHÔNG CÓ CHÚNG TA
Chương 15. DI SẢN NHIỄM XẠ
Chương 16. HỒ SƠ ĐỊA CHẤT CỦA CHÚNG TA
PHẦN IV
Chương 17. CHÚNG TA SẼ ĐI VỀ ĐÂU?
Chương 18. NGHỆ THUẬT VƯỢT TRÊN CHÚNG TA
Chương 19. NƠI KHỞI THỦY CỦA ĐẠI DƯƠNG
VĨ THANH
TRÁI ĐẤT CỦA CHÚNG TA, LINH HỒN CỦA CHÚNG TA
LỜI CẢM ƠN
Phần mở đầu. CÔNG ÁN LOÀI KHỈ
Một buổi sáng tháng sáu năm 2004, Ana María Santi ngồi tựa lưng vào
chiếc cột bên dưới một mái vòm lớn lợp bằng cọ, khuôn mặt bà tư lự khi
nhìn thần dân tụ tập ở Mazàraka, ngôi làng của họ ở Rio Conambu, một
nhánh thượng nguồn dòng sông Amazon ở Ecuado. Ngoại trừ mái tóc vẫn
còn dày và đen sau bảy thập niên, những nét khác của Ana Maria đều khiến
người khác liên tưởng đến một cái vỏ đậu khô. Đôi mắt xám tựa như hai chú
cá nhợt nhạt mắc kẹt trên gương mặt nhăn nheo. Bà mắng các cô cháu gái và
con của họ bằng thổ ngữ Quichua và một ngôn ngữ đã gần như biến mất,
tiếng Zápara. Một giờ sau khi mặt trời ló dạng, mọi người trong làng, trừ
Ana Maria, đều đã say khướt.
Đây là dịp lễ minga, một từ tiếng Amazon đồng nghĩa với lễ dựng trại.
Bốn mươi thổ dân Zápara để chân trần, một số vẽ lên mặt, ngồi sát nhau
thành vòng tròn trên những chiếc ghế gỗ. Để bồi dưỡng những người sẽ đi
phát quang và đốt rừng làm nương sắn cho em trai của Ana María, họ uống
hàng vại chicha. Thậm chí trẻ nhỏ cũng xì xụp những chiếc bát sứ to đựng
loại bia màu trắng sữa, có vị chua được ủ từ bột khoai mì lên men bằng nước
bọt của những phụ nữ Zápara, họ đã nhai những nắm bột khoai mì này cả
ngày. Hai cô gái tết tóc bằng cỏ quanh quẩn giữa đám đông, châm đầy những
chiếc bát chicha và phục vụ những đĩa cháo cá trê. Đối với bậc trưởng lão và
khách mời, họ sẽ tiếp đãi những khoanh thịt luộc to, màu sậm như sô-cô-la.
Nhưng Ana María Santi, người cao niên nhất tại đó, lại không dùng gì cả.
Mặc dù phần còn lại của nhân loại vừa chạm ngõ kỷ nguyên mới, Zapara
chỉ mới bước vào thời kỳ đồ đá. Giống như loài khỉ nhện mà họ cho là tổ
tiên của mình, người Zápara về cơ bản vẫn trú ngụ trên cây, buộc những thân
cây cọ bằng dây leo __bejuco để đỡ mái nhà được kết bằng lá cọ. Trước khi
có khoai mì, ruột cây cọ là rau củ chủ yếu của họ. Để có chất đạm, họ đánh
cá và săn lợn vòi, lợn cỏ, chim cút, và gà rừng châu Mỹ bằng tên tre và ống
thổi. Họ vẫn làm như thế, nhưng không còn nhiều thú để săn. Khi ông bà của
Ana María còn trẻ, bà kể lại, khu rừng dễ dàng nuôi sống họ, ngay cả khi
Zápara là một trong những bộ lạc lớn nhất vùng Amazon, với khoảng 200
ngàn thành viên sống trong những ngôi làng dọc bờ sông. Thế rồi, ở một nơi
cách đó rất xa đã xảy ra một sự kiện, và không thứ gì trong thế giới của họ –
hay của bất kỳ người nào – còn giữ nguyên như cũ nữa.
Đó chính là sự kiện Henry Ford tìm ra phương thức sản xuất ôtô hàng loạt.
Nhu cầu đối với săm lốp tăng nhanh chóng thôi thúc những cư dân châu Âu
tham vọng tiến về mọi nhánh sông Amazon có thể tiếp cận bằng tàu bè, để
khai thác đất trồng cây cao su và bắt giữ lao động cạo mủ cao su. Ở Ecuador,
người Quichua Indian ở cao nguyên, được những nhà truyền giáo Tây Ban
Nha cải đạo trước đó, tiếp tay cho họ và vui vẻ giúp đỡ họ xích những người
đàn ông Zápara ngoại đạo ở vùng đất thấp vào thân cây để làm việc cho đến
khi gục ngã. Phụ nữ và trẻ em gái Zápara bị bắt đi chăn nuôi súc hoặc làm nô
lệ tình dục, bị cưỡng hiếp cho đến chết.
Đến thập niên 1920, đồn điền cao su ở Đông Nam Á đã hủy hoại thị
trường mủ cao su tự nhiên Nam Mỹ. Hàng trăm cư dân Zápara may mắn trốn
thoát trong thời kỳ diệt chủng cao su vẫn biệt tăm. Một số tự cho mình là
người Quichua vẫn sống chung với những kẻ thù nay đã chiếm hết đất đai
của họ. Số khác bỏ trốn đến Peru. Bộ lạc Zápara ở Ecuador chính thức bị
xem là tuyệt chủng. Thế rồi, vào năm 1999, sau khi Peru và Ecuador giải
quyết được một tranh chấp từ lâu về đường biên giới, người ta phát hiện ra
một pháp sư Zápara gốc Peru đang đi trong rừng Ecuador. Ông nói rằng
mình đến gặp họ hàng lần cuối.
Việc tái phát hiện người Zápara gốc Ecuador trở thành sự kiện nhân chủng
học nổi tiếng. Chính phủ công nhận quyền lãnh thổ của họ, mặc dù nó chỉ
tương đương một khu nhỏ trong đất đai của tổ tiên họ, UNESCO cấp một
khoản viện trợ để họ hồi sinh văn hóa và bảo lưu ngôn ngữ. Vào thời điểm
đó, chỉ còn bốn thành viên trong bộ lạc có thể nói được thứ tiếng này, Ana
María Santi là một trong số đó. Khu rừng họ từng biết gần như biến mất: họ
đã học cách đốn cây bằng rựa sắt và đốt gốc cây để trồng khoai mì từ những
người xâm lược Quichua. Sau mỗi vụ thu hoạch, khoảnh đất đó sẽ bị bỏ
hoang trong nhiều năm; ở khắp nơi, khu rừng lá tán cao chót vót đã bị thay
thế bằng những cây nguyệt quế, mộc lan và cọ copa thứ sinh khẳng khiu.
Giờ đây, khoai mì là lương thực chính của họ, được tiêu thụ hàng ngày dưới
dạng chicha. Zapara đã sống sót đến thế kỷ 21, nhưng họ bước tới trong hơi
men chuếnh choáng, và cứ giữ nguyên lối sống ấy.
Họ vẫn săn bắt, nhưng nay thì những người đàn ông có thể phải đi nhiều
ngày mà vẫn không tìm được một con lợn lòi hay chim cút nào. Họ đã phải
chuyển sang săn khỉ nhện, trước đây ăn thịt chúng là điều cấm kỵ. Ana
María lại đẩy chiếc bát do cô cháu gái dâng lên sang một bên, trong bát chứa
miếng thịt màu sô-cô-la với một bàn chân không ngón nhỏ. Bà hất chiếc cằm
xương xẩu về phía món thịt khỉ hầm bị từ chối. “Khi chúng ta đã đến nước
phải ăn thịt tổ tiên của mình,” bà hỏi, “liệu sẽ còn lại gì đây?”
Cách xa những khu rừng và thảo nguyên của tổ tiên, số ít người trong
chúng ta vẫn còn cảm nhận được mối liên hệ với các tổ tiên động vật xa xưa
của mình. Việc bộ lạc Zápara vùng Amazon thực sự có được khả năng đó
thật đáng kinh ngạc, vì sự kiện loài người thoát li khỏi những loài động vật
linh trưởng khác đã xảy ra ở một châu lục khác. Tuy nhiên, gần đây chúng ta
lại dần dần linh cảm được điều Ana María muốn nói. Kể cả khi không bị đẩy
tới cảnh phải trở thành những kẻ ăn thịt người, phải chăng chúng ta vẫn sẽ
phải đối mặt với những lựa chọn nghiệt ngã khi lẩn tránh tương lai?
Cách đây một thế hệ, loài người đã lảng tránh thảm hoạ hủy diệt nguyên
tử; nhờ may mắn, chúng ta sẽ tiếp tục né tránh được nó và nhiều mối đe doạ
kinh hoàng khác. Nhưng hiện tại, chúng ta lại thường xuyên nhận ra mình
đang tự hỏi liệu có phải chúng ta đang vô tình hạ độc hoặc hun nóng hành
tinh, bao gồm cả chính bản thân mình không. Chúng ta cũng lạm dụng nước
và đất trồng đến mức chúng chỉ còn lại rất ít, và tiêu diệt hàng ngàn giống
loài khiến chúng có lẽ sẽ không bao giờ tái xuất hiện nữa. Thế giới của
chúng ta, như vài tiếng nói đáng kính đã cảnh báo, một ngày nào đó có thể sẽ
thoái hóa thành thứ gì đó giống hệt một khu đất bỏ hoang, nơi lũ quạ và
chuột lẩn trốn giữa đám cỏ dại, săn lùng lẫn nhau. Nếu điều đó có xảy ra
thật, thì khi nào là thời điểm mà con người chúng ta, với tất cả trí thông minh
tuyệt đỉnh đáng tán dương của mình, không còn nằm trong số những kẻ sống
sót nữa?
Sự thật là, chúng ta không biết. Mọi phỏng đoán đều bị xáo trộn bởi chính
bản tính cứng đầu, không dám thừa nhận rằng điều tồi tệ nhất có thể xảy ra
của chúng ta. Có lẽ chúng ta bị chính bản năng sinh tồn của mình hủy hoại,
thứ bản năng đã được mài giũa qua hàng niên kỷ giúp chúng ta phủ nhận, coi
thường, hoặc phớt lờ những điềm báo thảm hoạ do lo sợ rằng chúng sẽ khiến
chúng ta tê liệt vì hoảng loạn.
Nếu những bản năng đó lừa phỉnh chúng ta, để đến nỗi loài người cứ
ngoan cố chờ đợi cho tới khi đã quá muộn, thì đó là một điều xấu. Nếu
chúng giúp củng cố sức chịu đựng của chúng ta đối với điềm gở, thì đó lại là
điều tốt. Hơn một lần, niềm hy vọng điên rồ, ngoan cố đã khơi nguồn cảm
hứng cho những hành động sáng tạo giúp cứu vớt loài người khỏi bị diệt
vong. Vì thế, chúng ta hãy thử một thí nghiệm sáng tạo thế này: Giả sử điều
tồi tệ nhất đã xảy ra. Nhân loại diệt chủng là việc đã rồi. Không phải do thảm
họa hạt nhân, do va chạm của thiên thạch, hoặc bất kỳ thảm họa nào đủ sức
phá hủy hầu hết những thứ khác, bỏ lại một trái đất trong tình trạng kiệt quệ
hoàn toàn. Cũng không phải một kịch bản sinh thái bi thảm nào đó, trong đó
chúng ta tàn lụi trong đau đớn cùng nhiều chủng loài khác.
Thay vào đó, hãy tưởng tượng về một thế giới khi chúng ta đột nhiên biến
mất. Ngày mai.
Có lẽ rất khó có chuyện đó, nhưng cũng chưa hẳn là bất khả. Giả sử một
loại vi rút chỉ có độc tính với riêng loài Homo sapiens – có trong tự nhiên
hoặc được chế tạo từ một thứ công nghệ nano đen tối nào đó – đã trừ khử
toàn bộ chúng ta nhưng không gây tổn hại đến những thứ khác. Hay một gã
phù thủy thù ghét nhân loại bằng cách nào đó đã phá hủy 3.9 % DNA quyết
định sự khác biệt giữa loài người và tinh tinh, hay hoàn thiện phương pháp
khiến chúng ta vô sinh. Hay giả sử rằng Chúa Jesus – sau này ta sẽ nói nhiều
hơn về Ngài – hay người ngoài hành tinh đã dụ dỗ chúng ta đến một thiên
đường rực rỡ hoặc một sở thú nào đó trong thiên hà.
Hãy nhìn xung quanh bạn, nhìn thế giới của hôm nay. Nhà của bạn, thành
phố của bạn. Những vùng đất lân cận, những vỉa hè và lớp đất bên dưới đó.
Hãy giữ tất cả ở nguyên vị trí, chỉ loại bỏ loài người. Hãy quét sạch chúng ta,
và xem điều gì sẽ còn lại. Phần còn lại của thế giới sẽ phản ứng như thế nào
nếu đột nhiên được giải thoát khỏi những áp lực tàn nhẫn mà ta dồn lên hành
tinh và những chủng loài khác? Liệu khí hậu sẽ hoặc có thể trở lại như trước
khi chúng ta đốt nóng tất cả động cơ nhanh đến đâu?
Trong bao lâu trái đất sẽ có thể khôi phục lại những vùng đất đã mất và lại
trở thành Vườn địa đàng lung linh và tỏa hương như trước khi Adam, hoặc
Homo habilis, xuất hiện? Liệu tự nhiên có thể xóa sạch mọi dấu vết của
chúng ta? Làm thế nào nó có thể xóa bỏ những thành phố và công trình công
cộng vĩ đại của chúng ta, và biến vô số sản phẩm từ chất dẻo và chất tổng
hợp độc hại trở thành các thành tố cơ bản, lành tính? Hay phải chăng một số
loại vật chất có cấu tạo quá phi tự nhiên, đến mức không thể phân hủy?
Còn những tạo tác đẹp đẽ của chúng ta thì sao –những công trình kiến
trúc, nghệ thuật, và rất nhiều những biểu tượng tinh thần của chúng ta? Liệu
có điều gì thực sự trường tồn với thời gian không, ít nhất cho đến khi mặt
trời nở ra và nung Trái đất của chúng ta thành tro bụi?
Thậm chí sau sự kiện đó, liệu chúng ta có thể lưu lại một dấu vết mờ nhạt,
vĩnh viễn nào đó trong vũ trụ này hay không; một thứ hào quang vĩnh cửu,
hoặc một âm vang về loài người trên Trái đất; một dấu hiệu liên hành tinh
nào đó chứng tỏ rằng chúng ta đã từng tồn tại nơi đây?
Để cảm nhận thế giới sẽ như thế nào nếu không có chúng ta, trước tiên
chúng ta phải xem lại thế giới trước khi có loài người. Chúng ta không phải
là những nhà du hành vượt thời gian, và những dấu vết hóa thạch chỉ là
những mẫu vật rời rạc. Thậm chí nếu vết tích đó có hoàn chỉnh, tương lai
cũng sẽ không thể phản ánh chính xác quá khứ. Chúng ta đã đẩy một số
giống loài vào cảnh tuyệt diệt, triệt để tới mức chúng, hoặc ADN của chúng,
có khả năng sẽ không bao giờ xuất hiện trở lại. Bởi chúng ta đã làm một vài
điều không thể đảo ngược, nên những gì còn lại khi chúng ta biến mất sẽ
không thể giống hệt như hành tinh khi chúng ta chưa từng tiến hoá ban đầu.
Nhưng cũng không thể quá khác biệt. Thiên nhiên đã từng trải qua nhiều
mất mát tồi tệ trước đây, và cũng đã chữa lành những vết thương. Thậm chí
đến ngày nay, vẫn còn sót lại một vài khu vực trên trái đất, nơi tất cả giác
quan của chúng ta có thể tận hưởng những ký ức sống động về một Vườn địa
đàng trước khi chúng ta xuất hiện. Chắc chắn chúng đang mời gọi chúng ta
suy nghĩ về viễn cảnh thiên nhiên sẽ hưng thịnh như thế nào nếu giả thiết
này xảy ra.
Vì chúng ta đang tưởng tượng, tại sao chúng ta lại không mơ về cách thức
tự nhiên sẽ phát triển không dựa trên sự diệt vong của chúng ta? Xét cho
cùng, chúng ta cũng chỉ là một loài động vật có vú. Mọi dạng sống đều tham
gia vào hoạt cảnh lịch sử vĩ đại này. Khi nhân loại cáo chung, liệu hành tinh
này có suy tàn đi vì thiếu vắng những đóng góp của chúng ta không?
Có khi nào, thay vì nhẹ nhõm vì vứt bỏ được gánh nặng sinh học khổng
lồ, thế giới phi nhân loại lại thấy nhớ chúng ta?
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
PHẦN I
Chương 1.
LÀN HƯƠNG ĐỊA ĐÀNG CÒN SÓT LẠI
Có lẽ bạn chưa bao giờ nghe đến Bialowieza Puszcza. Nhưng nếu bạn lớn
lên ở đâu đó trong khu vực ôn đới vắt ngang phần lớn Bắc Mỹ, Nhật Bản,
Hàn Quốc, Nga, một vài nước trong Liên bang Xô Viết cũ, một phần Trung
Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Đông và Tây Âu – bao gồm Quần đảo Anh – một phần
nào đó trong sâu thẳm con người bạn sẽ nhớ ra nó. Và nếu bạn được sinh ra
tại lãnh nguyên hay sa mạc, vùng cận nhiệt hay nhiệt đới, đồng hoang hay
thảo nguyên, vẫn còn vài nơi trên thế giới tương tự như puszcza sẽ khuấy
động trí nhớ của bạn.
Puszcza, một từ Ba Lan cổ, nghĩa là “rừng nguyên sinh.” Trải đều dọc
theo biên giới giữa Ba Lan và Pelarus, dải Bialowieza Puszcza rộng nửa triệu
mẫu Anh bao chứa những khoảnh rừng già đất thấp cuối cùng còn sót lại ở
Châu Âu. Hãy nghĩ về một khu rừng mù sương e ấp lờ mờ hiện ra trong tầm
mắt như trong những câu chuyện cổ tích của anh em nhà Grimm mà bạn
được nghe kể khi còn bé thơ. Ở đây, cây tần bì và cây đoan vươn tới chiều
cao 45 – 50 mét, tán lá khổng lồ của chúng che phủ tầng thực vật ẩm ướt, um
tùm bên dưới gồm có những cây trăn, cây dương xỉ, cây tổng quán sủi đầm
lầy và những tai nấm to bằng chiếc đĩa. Ở đây, những cây sồi, được bọc
trong lớp rêu năm trăm tuổi, mọc tốt đến mức chim gõ kiến đốm vĩ đại có
thể cất trữ quả vân sam trong những rãnh sâu tới năm phân trên vỏ cây. Bầu
không khí, đặc quánh và mát mẻ, được ấp ủ trong sự tĩnh mịch, thỉnh thoảng
lại bị ngắt quãng bởi tiếng kêu bi ai của một chú chim bổ hạt, tiếng hót thâm
trầm của một chú cú lùn, hoặc tiếng tru rền rĩ của một con chó sói, để rồi, lại
chìm trong lặng im.
Mùi hương tỏa ra từ vô số lớp đất mùn tích tụ ở trung tâm khu rừng lắng
nghe nguồn gốc xa xưa của sự màu mỡ. Ở Bialowieza, sự sống trù phú phụ
thuộc rất nhiều vào những thứ đã chết. Gần như một phần tư lớp chất hữu cơ
nằm trên mặt đất đang ở trong nhiều giai đoạn phân hủy khác nhau – gần 40
mét khối thân cây và cành gãy mục rữa trên mỗi mẫu đất đang cung cấp chất
dinh dưỡng cho hàng ngàn loại nấm, địa y, bọ cánh cứng, ấu trùng, và vi
khuẩn đã không còn tồn tại trong những khu cây trồng được quản lý, quy
hoạch quy củ, vẫn được coi là rừng ở những nơi khác.
Những loài này trở thành thức ăn trong một cái chạn gỗ khổng lồ, giúp
nuôi béo chồn, chồn mactet nâu, gấu mèo châu Mỹ, lửng, rái cá, cáo, linh
miêu, sói, hoẵng, nai sừng tấm và đại bàng. Tại đây người ta tìm thấy nhiều
chủng loài sinh vật hơn bất kỳ nơi nào khác trên lục địa – tuy vậy khu vực
này không có núi bao quanh hay thung lũng bảo vệ để hình thành những
chủng loại sinh vật bản địa đặc trưng độc đáo. Bialowieza Puszcza đơn giản
chỉ là di tích của một khu rừng một thời đã kéo dài tới phía đông sang
Siberia và phía tây sang Ireland.
Không có gì đáng ngạc nhiên khi di sản sinh học nguyên vẹn này tồn tại
được giữa Châu Âu là nhờ vào đặc quyền cao. Trong thế kỷ thứ 14, một vị
công tước người Lát-vi tên là Wladyslaw Jagielîo, đã thành công trong việc
hình thành một liên minh giữa lãnh địa công tước to lớn của ông với Vương
quốc Ba Lan. Sau đó, ông tuyên bố khu rừng là khu vực săn bắn độc quyền
của hoàng gia. Qua hàng thế kỷ, nó vẫn được giữ nguyên như thế. Khi liên
minh Ba Lan - Lát-vi bị Nga thâu tóm, Bialowieza trở thành lãnh địa riêng
của Sa hoàng. Mặc dù quân xâm lược Đức mặc sức khai thác gỗ và săn thú
trong Thế chiến thứ nhất, phần rừng nguyên thủy ở giữa vẫn được giữ
nguyên vẹn, và đến năm 1921, nó trở thành công viên quốc gia Ba Lan. Dưới
thời Xô Viết, tình trạng cướp bóc gỗ lại tiếp tục trong một thời gian ngắn,
nhưng khi Đức Quốc Xã xâm chiếm, một người theo trường phái sùng bái tự
nhiên tên là Hermann Goring đã ra sắc lệnh tuyên bố toàn bộ vùng này là
vùng cấm lui tới, trừ khi có sự chuẩn y của ông.
Sau Thế chiến thứ hai, người ta đồn rằng vào một buổi tối ở Warsaw,
Josef Stalin, khi ấy đang ngà ngà hơi men, đã đồng ý cho Ba Lan giữ lại hai
phần năm khu rừng. Có rất ít thay đổi dưới thời cộng sản, ngoại trừ việc xây
dựng một số ngôi nhà săn bắn đặc biệt. Thỏa thuận giải tán Liên bang Xô
Viết thành các quốc gia tự do đã được ký kết vào năm 1991 tại một trong số
các ngôi nhà đó - nhà săn bắn Viskuli. Nhưng hoá ra, dưới thời nền dân chủ
Ba Lan và độc lập Belarus, khu bảo tồn cổ xưa này lại bị đe dọa nhiều hơn
so với bảy thế kỷ cai trị của các hoàng đế và nhà độc tài. Bộ lâm nghiệp cả
hai quốc gia đều tăng cường quản lý để bảo vệ sức khỏe của Puszcza. Tuy
nhiên, quản lý rốt cuộc chỉ là mỹ từ dùng để chỉ việc khai thác và buôn bán
các loại gỗ cứng trưởng thành lẽ ra sẽ trở thành nguồn dinh dưỡng tự nhiên
cho khu rừng vào một ngày đẹp trời nào đó.
Thật sửng sốt khi nghĩ rằng toàn bộ châu Âu đã từng có thời giống như
Puszcza. Bước vào đó, ta sẽ nhận ra rằng hầu hết chúng ta đã được nuôi
dưỡng thành một bản sao mờ nhạt của những gì tự nhiên đã mưu tính. Khi
ngắm nhìn những cây tổng quán sủi với thân rộng tới hai mét, hoặc đi giữa
những hàng cây cao nhất ở đây – cây vân sam Na Uy khổng lồ, xù xì như
một cây Methuselah – lẽ ra sẽ gây ra cảm giác xa lạ, hệt như khi những
người vốn sinh trưởng ở miền rừng thứ sinh yếu ớt ở khắp Bắc bán cầu nhìn
thấy rừng Amazon hay Châu Nam Cực vậy. Song điều đáng ngạc nhiên là,
chúng ta lại có cảm giác thật gần gũi. Và, ở một cấp độ tế bào nào đó, thật
trọn vẹn nữa.
Andrzej Bobiec ngay lập tức nhận ra điều này. Là một sinh viên ngành
lâm học ở Krakow, anh được đào tạo về quản lý rừng để tối đa hóa năng
suất, bao gồm cả việc loại bỏ lớp rác sinh học “thừa thãi” vì sợ rằng nó sẽ
nuôi dưỡng những loài gây hại như bọ cánh cứng. Vì thế, trong một lần đến
thăm nơi này, anh đã kinh ngạc khi phát hiện ra sự đang dạng sinh học nhiều
gấp 10 lần so với bất kỳ khu rừng nào anh từng thấy.
Đó là nơi duy nhất còn sót lại đủ chín loài chim gõ kiến Châu Âu, bởi vì,
anh nhận ra rằng, một vài loài trong số chúng chỉ làm tổ trên những thân cây
chết rỗng ruột. “Chúng không thể tồn tại trong rừng được quản lý,” anh tranh
luận với các giáo sư lâm học của mình. “Bialowieza Puszcza đã tự quản lý
cực hoàn hảo trong hàng thiên niên kỷ.”
Thành ra, chàng trai cán bộ lâm nghiệp người Phần Lan trẻ tuổi với hàm
râu quai nón lại trở thành một nhà lâm sinh học. Anh được ban quản lý công
viên quốc gia Ba Lan tuyển dụng. Nhưng rốt cuộc, lại bị sa thải vì dám
chống lại các kế hoạch quản lý dự tính khai thác quá gần trung tâm nguyên
thủy của Puszcza. Trong nhiều tập san quốc tế, anh chống đối những chính
sách cho rằng “rừng sẽ chết nếu thiếu sự giúp đỡ tận tâm của chúng ta,” hoặc
những luận điệu bào chữa rằng việc đốn gỗ ở khu vực đệm xung quanh
Bialowieza là để “tái thiết tính nguyên sinh của rừng.” Anh kêu rằng, lối suy
nghĩ rắc rối này đã lan rộng trong nhóm những người châu Âu không còn
chút ký ức nào về rừng rậm hoang dã.
Để giữ gìn mối dây kết nối với ký ức của mình, trong suốt nhiều năm, mỗi
ngày anh đều xỏ đôi ủng da và lội bộ xuyên qua Puszcza thân yêu. Mặc dù
bản thân quyết liệt bảo vệ những khu vực rừng chưa bị con người quấy
nhiễu, song Andrzej Bobiec vẫn không thể cưỡng nổi cám dỗ của chính bản
chất con người trong mình.
Một mình trong khu rừng, Bobiec đã đạt được sự đồng cảm vượt thời gian
với những bằng hữu Homo sapiens. Sự hoang dã thuần khiết tới mức này
chính là bản danh sách trắng ghi nhận hành trình nhân loại: một bản ghi chép
mà anh đã học được cách đọc hiểu. Những lớp than củi trên đất chỉ cho anh
biết nơi những đấu thủ đã từng dùng lửa phát hoang rừng để lấy cành non.
Những hàng cây bu-lô và cây dương lá rung đang run rẩy minh chứng cho
thời kỳ hậu duệ của Jagiello xao lãng việc săn bắn, có lẽ vì chiến tranh, kéo
dài đủ lâu để những chủng loài ưa sáng tái chiếm cứ khu đất từng bị phát
hoang. Dưới bóng râm của chúng mọc lên những cây gỗ non như tiết lộ rằng
chính loài gỗ cứng đã có mặt ở đây từ trước. Dẫn dần, những cây này sẽ lấn
lướt cây bu-lô và cây dương lá rung cho đến khi chúng phát triển như thể
chưa từng biến mất.
Khi Bobiec vô tình bắt gặp một loại cây bụi bất thường như táo gai hoặc
một cây táo già, anh biết rằng mình đang đứng ngay trên nấm mồ của một
ngôi nhà gỗ đã bị phá hủy cách đây rất lâu bởi chính những con vi khuẩn có
khả năng biến những thân cây khổng lồ ở đây thành đất bồi. Bất kỳ một cây
sồi đơn độc đồ sộ nào mà anh tìm thấy mọc lên từ một ụ đất thấp phủ đầy cỏ
ba lá đều đánh dấu một nơi hỏa táng. Rễ cây đã hút chất dinh dưỡng từ tro
bụi của tổ tiên Slavic của người Belarus ngày nay, những người đến từ
phương đông cách đây 900 năm. Người Do Thái ở năm ngôi làng nhỏ xung
quanh mai táng người chết tại bìa rừng phía tây bắc. Những bia mộ bằng đá
sa thạch và đá hoa cương từ thập niên 1850, bị rễ cây đeo bám và kéo ngã,
đã bị mài mòn nhẵn đến mức chúng bắt đầu nom giống hệt những viên đá
cuội do những người họ hàng buồn đau của mình để lại, những người đã quá
cố cách đó rất lâu.
Andrzej Bobiec băng qua một trảng thông Scot màu lục lam, cách biên
giới Belarus chưa tới một dặm. Buổi xế chiều tháng mười thật vắng lặng, anh
có thể nghe được tiếng tuyết rơi. Bất thình lình, có tiếng xáo động phát ra từ
tầng cây bụi, và hơn chục con bò rừng bison– Bison Bonasus, bò rừng bison
Châu Âu – lao đến sau khi rời chỗ chúng gặm cây non. Chúng thở phì phò và
cào chân xuống đất, đôi mắt đen khổng lồ chỉ giương lên nhìn ngó chỉ trong
khoảng thời gian ngắn ngủi đủ để có thể làm những gì mà tổ tiên chúng đã
phát hiện rằng phải làm khi đối mặt với một trong những động vật hai chân
yếu đuối giả tạo này: bỏ trốn.
Chỉ còn 600 con bò rừng bison Châu Âu còn sót lại trong tự nhiên, gần
như tất cả đều tập trung ở đây – hoặc chỉ một nửa, tuỳ thuộc vào định nghĩa
ở đây là thế nào. Một tấm màn sắt chia đôi thiên đường này, được người Xô
Viết dựng lên vào năm 1980 dọc theo biên giới để ngăn cản người đào tẩu
theo phong trào đoàn kết nổi loạn ở Ba Lan. Mặc dù chó sói đã đào lỗ ở dưới
chân, và người ta tin rằng hoẵng và nai sừng tấm có thể nhảy qua hàng rào,
bầy động vật có vú lớn nhất châu Âu vẫn bị chia cắt, và cùng với nó, là quỹ
gen - chia cắt và suy giảm nghiêm trọng, như một số nhà động vật học lo sợ.
Sau Thế chiến thứ nhất, bò rừng ở các sở thú đã từng được mang đến đây để
bổ sung cho một chủng loài đang gần tuyệt chủng vì các binh sỹ đói khát.
Giờ đây, tàn dư của Chiến tranh Lạnh lại đe dọa chúng.
Belarus, rất lâu sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, vẫn không tháo dỡ
tượng Lê-nin và cũng không thể hiện ý định gì là sẽ phá hủy hàng rào, nhất
là khi biên giới Ba Lan hiện nay đã là biên giới của Liên minh Châu Âu.
Mặc dù hai trụ sở công viên của hai quốc gia chỉ cách nhau 14 km, nhưng để
nhìn thấy Belovezhskaya Pushcha, theo cách gọi ở Belarus, một du khách
nước ngoài phải lái xe 100 dặm xuống phía nam, đón tàu hỏa băng qua biên
giới đến thành phố Brest, trải qua một cuộc thẩm vấn vô vị, và thuê một
chiếc xe lái ngược lên phía bắc. Đồng nhiệm người Belarus và người đồng
chí hướng của Andrzej Bobiec, Heorhi Kazulka, là một nhà sinh học chuyên
nghiên cứu động vật không xương sống có vẻ ngoài xanh xao, nhợt nhạt và
là nguyên phó giám đốc của rừng nguyên sinh nằm bên phía Belarus. Ông
cũng bị ban quản lý công viên quốc gia sa thải vì đã dám phản đối một trong
những hạng mục xây dựng mới nhất của công viên – xưởng cưa. Ông không
thể mạo hiểm để người khác trông thấy mình đi với một người Tây Âu. Bên
trong căn hộ Brezhnev-era, nơi ông sinh sống ở bìa rừng, ông mời trà khách
tham quan với vẻ tiếc nuối và thao thao bất tuyệt về giấc mơ của mình về
một công viên quốc tế hòa bình, nơi bỏ rừng bison và nai sừng tấm Bắc Mỹ
được rong chơi và sinh sản tự do.
Những cây khổng lồ ở rừng Pushcha giống hệt như những cây ở Ba Lan;
cũng là những cây hoa mao lương vàng, địa y và lá sồi đỏ bản to; cũng là
những chú đại bàng đuôi trắng đang bay lượn, bất chấp hàng rào dây thép gai
sắc lẹm bên dưới. Thật ra, ở cả hai phía, khu rừng đang thật sự sinh sôi phát
triển, vì người làm nông đã rời khỏi những ngôi làng đang bị thu hẹp để lên
các thành phố. Trong khí hậu ẩm ướt này, cây bu-lô và cây dương lá rung
nhanh chóng xâm chiếm những cánh đồng khoai tây bỏ hoang; chỉ trong
vòng hai thập kỷ, đất nông nghiệp đã nhường chỗ cho đất rừng. Bên dưới tán
lá của những cây tiên phong, sồi, thích, địa y, cây đu, và cây vân sam đang
tái sinh. Nếu 500 năm không có loài người, một khu rừng thật sự sẽ có thể sẽ
trở lại.
Ý nghĩ về một vùng nông thôn châu Âu ngày nào đó sẽ trở lại thành rừng
nguyên thủy thật đáng phấn khởi. Nhưng trừ phi những con người cuối cùng
còn tồn tại biết điều mà gỡ bỏ bức màn sắt Belarus trước khi ra đi, bằng
không những chú bò rừng có thể sẽ tàn lụi theo họ.
Cây sồi 500 năm tuổi ở rừng
Bialowieza Puszcza, thuộc Phần Lan. (Ảnh của Janusk Korbel).
Chương 2.
SAN BẰNG NHÀ CỬA
“'Nếu anh muốn phá hủy một cái nhà kho,' một nông dân > có lần đã nói
với tôi, 'hãy khoét một cái lỗ với diện tích một trăm hai mươi cm vuông trên
mái. Rồi đứng chờ.'”
– Kiến trúc sư Chris Riddle
Amherst, Massachusetts
Vào ngày nhân loại biến mất, thiên nhiên lên nắm quyền và lập tức bắt tay
vào dọn dẹp nhà cửa – nói đúng hơn là rất nhiều nhà cửa. Quét sạch chúng
khỏi bề mặt Trái đất. Tất cả rồi sẽ biến hết.
Nếu là chủ một ngôi nhà, bạn đã biết rằng với ngôi nhà của mình, đó chỉ là
vấn đề thời gian, nhưng bạn vẫn không chịu thừa nhận, thậm chí khi sự xói
mòn tấn công không thương tiếc, bắt đầu bằng tiền tiết kiệm của bạn. Quay
lại thời điểm bạn được báo giá nhà, không ai đề cập đến những gì bạn phải
chi trả để thiên nhiên không thu hồi căn nhà của bạn trước cả khi ngân hàng
làm điều đó.
Thậm chí nếu bạn sống trong một khu vực hậu hiện đại đã biến tính sâu
sắc, nơi những cỗ máy nặng nề hàng phục phong cảnh thiên nhiên, thay thế
quần thể thực vật tự nhiên ngang ngược bằng những thảm cỏ ngoan ngoãn và
những cây non giống hệt nhau, san lấp những đầm lầy trên danh nghĩa chính
đáng là kiểm soát muỗi – ngay cả khi đó, bạn vẫn biết rằng thiên nhiên
không hề sợ hãi. Dù bạn cách ly môi trường điều hoà nhiệt độ trong nhà và
thời tiết bên ngoài kĩ càng đến mấy, các bào tử vô hình vẫn sẽ thâm nhập vào
nhà bạn, và bùng nổ với những cơn bộc phát của nấm mốc – thật kinh khủng
khi bạn nhìn thấy chúng, nhưng nếu bạn không nhìn thấy thì tình hình còn bi
đát hơn, bởi vì chúng ẩn bên dưới những bức tường phủ sơn, nhấm nháp
những lớp giấy bên trong tấm thạch cao, làm mục rữa đinh vít và dầm sàn.
Hoặc bạn sẽ bị mối, kiến đục gỗ, gián, ong bắp cày thậm chí là các loài thú
nhỏ xâm lược.
Tuy nhiên, trên hết, bạn sẽ bị bao vây bởi một thứ mà trong những bối
cảnh khác lại là nguồn sống đích thực: nước. Nước luôn luôn muốn chảy vào
nhà.
Sau khi chúng ta biến mất, sự báo thù của thiên nhiên đối với tính ưu việt
cơ khí hóa, tự mãn của chúng ta sẽ đến từ đường thủy. Bắt đầu từ những
công trình có khung gỗ, kỹ thuật xây dựng nhà ở phổ biến nhất tại những
nước phát triển. Nó bắt đầu từ trên mái nhà, thường được lợp bằng nhựa
đường hoặc ngói, được cam đoan có độ bền kéo dài hai đến ba thập kỷ nhưng sự bảo đảm này không tính đến khu vực xung quanh ống khói, nơi
xuất hiện sự rò rỉ đầu tiên. Khi những tấm ngăn nước bị tách rời dưới sự tấn
công bền bỉ của mưa, nước rỉ vào bên dưới lớp ngói lợp. Nước chảy qua
những tấm ngói lợp kích thước 1,2 x 2,4 m, làm bằng gỗ dán hoặc, nếu mới
hơn, bằng ván gỗ ép dày mười đến mười ba cm được tạo thành từ những
phiến gỗ, ghép lại với nhau bằng nhựa thông.
Mới hơn chưa chắc đã tốt hơn. Wernher Von Braun, nhà khoa học người
Đức đã phát triển chương trình không gian Hoa Kỳ, từng kể một câu chuyện
về Tướng John Glenn, người Mỹ đầu tiên bay vòng quanh Trái đất. “Vài
giây trước khi cất cánh, khi Glenn đang ngồi chết dí trong chiếc tên lửa mà
chúng tôi chế tạo cho ông và mọi nỗ lực đỉnh cao của nhân loại tất cả đều tập
trung cho khoảnh khắc đó, bạn có biết ông ấy tự nói gì với bản thân không?
'Ôi Lạy Chúa! Con đang ngồi trên một đống hàng rẻ tiền!'”
Bên trong ngôi nhà mới của mình, bạn cũng đang ngồi trong một thứ
tương tự. Một mặt, điều đó hoàn toàn đúng: bằng cách xây dựng mọi thứ thật
rẻ và nhẹ, chúng ta đang sử dụng nguồn lực thế giới ít hơn. Mặt khác, những
thân cây khổng lồ dùng làm cột và xà gỗ hảo hạng chống đỡ các bước tường
thời trung cổ ở châu Âu, Nhật Bản và châu Mỹ trong thời kỳ đầu, nay đã trở
nên quá đắt đỏ và quý hiếm, vì vậy chúng ta buộc phải thay tạm bằng cách
lắp ghép những mảnh và mẫu gổ nhỏ hơn.
Loại nhựa thông được sử dụng trong mái gỗ ép giá cả phải chăng của bạn,
một loại chất nhờn không thấm nước làm từ formaldehyde và phenol
...
Phần mở đầu. CÔNG ÁN LOÀI KHỈ
PHẦN I
Chương 1. LÀN HƯƠNG ĐỊA ĐÀNG CÒN SÓT LẠI
Chương 2. SAN BẰNG NHÀ CỬA
Chương 3. THÀNH PHỐ PHI NHÂN LOẠI
Chương 4. THẾ GIỚI TRƯỚC KHI CHÚNG TA XUẤT HIỆN
Chương 5. BẦY THÚ ĐÃ MẤT
Chương 6. NGHỊCH LÝ CHÂU PHI
PHẦN II
Chương 7. NHỮNG CÔNG TRÌNH SỤP ĐỔ
Chương 8. NHỮNG THỨ CÒN XÓT LẠI
Chương 9. CÁC HỢP CHẤT CAO PHÂN TỬ BẤT DIỆT
Chương 10. ĐƯỜNG DẪN DẦU KHÍ
Chương 11. THẾ GIỚI THIẾU VẮNG NÔNG TRẠI
PHẦN 3
Chương 12. SỐ PHẬN CỦA NHỮNG KỲ QUAN THẾ GIỚI CỔ VÀ
HIỆN ĐẠI
Chương 13. THẾ GIỚI KHÔNG CÒN CHIẾN TRANH
***
Chương 14. BẦU TRỜI KHÔNG CÓ CHÚNG TA
Chương 15. DI SẢN NHIỄM XẠ
Chương 16. HỒ SƠ ĐỊA CHẤT CỦA CHÚNG TA
PHẦN IV
Chương 17. CHÚNG TA SẼ ĐI VỀ ĐÂU?
Chương 18. NGHỆ THUẬT VƯỢT TRÊN CHÚNG TA
Chương 19. NƠI KHỞI THỦY CỦA ĐẠI DƯƠNG
VĨ THANH
TRÁI ĐẤT CỦA CHÚNG TA, LINH HỒN CỦA CHÚNG TA
LỜI CẢM ƠN
Phần mở đầu. CÔNG ÁN LOÀI KHỈ
Một buổi sáng tháng sáu năm 2004, Ana María Santi ngồi tựa lưng vào
chiếc cột bên dưới một mái vòm lớn lợp bằng cọ, khuôn mặt bà tư lự khi
nhìn thần dân tụ tập ở Mazàraka, ngôi làng của họ ở Rio Conambu, một
nhánh thượng nguồn dòng sông Amazon ở Ecuado. Ngoại trừ mái tóc vẫn
còn dày và đen sau bảy thập niên, những nét khác của Ana Maria đều khiến
người khác liên tưởng đến một cái vỏ đậu khô. Đôi mắt xám tựa như hai chú
cá nhợt nhạt mắc kẹt trên gương mặt nhăn nheo. Bà mắng các cô cháu gái và
con của họ bằng thổ ngữ Quichua và một ngôn ngữ đã gần như biến mất,
tiếng Zápara. Một giờ sau khi mặt trời ló dạng, mọi người trong làng, trừ
Ana Maria, đều đã say khướt.
Đây là dịp lễ minga, một từ tiếng Amazon đồng nghĩa với lễ dựng trại.
Bốn mươi thổ dân Zápara để chân trần, một số vẽ lên mặt, ngồi sát nhau
thành vòng tròn trên những chiếc ghế gỗ. Để bồi dưỡng những người sẽ đi
phát quang và đốt rừng làm nương sắn cho em trai của Ana María, họ uống
hàng vại chicha. Thậm chí trẻ nhỏ cũng xì xụp những chiếc bát sứ to đựng
loại bia màu trắng sữa, có vị chua được ủ từ bột khoai mì lên men bằng nước
bọt của những phụ nữ Zápara, họ đã nhai những nắm bột khoai mì này cả
ngày. Hai cô gái tết tóc bằng cỏ quanh quẩn giữa đám đông, châm đầy những
chiếc bát chicha và phục vụ những đĩa cháo cá trê. Đối với bậc trưởng lão và
khách mời, họ sẽ tiếp đãi những khoanh thịt luộc to, màu sậm như sô-cô-la.
Nhưng Ana María Santi, người cao niên nhất tại đó, lại không dùng gì cả.
Mặc dù phần còn lại của nhân loại vừa chạm ngõ kỷ nguyên mới, Zapara
chỉ mới bước vào thời kỳ đồ đá. Giống như loài khỉ nhện mà họ cho là tổ
tiên của mình, người Zápara về cơ bản vẫn trú ngụ trên cây, buộc những thân
cây cọ bằng dây leo __bejuco để đỡ mái nhà được kết bằng lá cọ. Trước khi
có khoai mì, ruột cây cọ là rau củ chủ yếu của họ. Để có chất đạm, họ đánh
cá và săn lợn vòi, lợn cỏ, chim cút, và gà rừng châu Mỹ bằng tên tre và ống
thổi. Họ vẫn làm như thế, nhưng không còn nhiều thú để săn. Khi ông bà của
Ana María còn trẻ, bà kể lại, khu rừng dễ dàng nuôi sống họ, ngay cả khi
Zápara là một trong những bộ lạc lớn nhất vùng Amazon, với khoảng 200
ngàn thành viên sống trong những ngôi làng dọc bờ sông. Thế rồi, ở một nơi
cách đó rất xa đã xảy ra một sự kiện, và không thứ gì trong thế giới của họ –
hay của bất kỳ người nào – còn giữ nguyên như cũ nữa.
Đó chính là sự kiện Henry Ford tìm ra phương thức sản xuất ôtô hàng loạt.
Nhu cầu đối với săm lốp tăng nhanh chóng thôi thúc những cư dân châu Âu
tham vọng tiến về mọi nhánh sông Amazon có thể tiếp cận bằng tàu bè, để
khai thác đất trồng cây cao su và bắt giữ lao động cạo mủ cao su. Ở Ecuador,
người Quichua Indian ở cao nguyên, được những nhà truyền giáo Tây Ban
Nha cải đạo trước đó, tiếp tay cho họ và vui vẻ giúp đỡ họ xích những người
đàn ông Zápara ngoại đạo ở vùng đất thấp vào thân cây để làm việc cho đến
khi gục ngã. Phụ nữ và trẻ em gái Zápara bị bắt đi chăn nuôi súc hoặc làm nô
lệ tình dục, bị cưỡng hiếp cho đến chết.
Đến thập niên 1920, đồn điền cao su ở Đông Nam Á đã hủy hoại thị
trường mủ cao su tự nhiên Nam Mỹ. Hàng trăm cư dân Zápara may mắn trốn
thoát trong thời kỳ diệt chủng cao su vẫn biệt tăm. Một số tự cho mình là
người Quichua vẫn sống chung với những kẻ thù nay đã chiếm hết đất đai
của họ. Số khác bỏ trốn đến Peru. Bộ lạc Zápara ở Ecuador chính thức bị
xem là tuyệt chủng. Thế rồi, vào năm 1999, sau khi Peru và Ecuador giải
quyết được một tranh chấp từ lâu về đường biên giới, người ta phát hiện ra
một pháp sư Zápara gốc Peru đang đi trong rừng Ecuador. Ông nói rằng
mình đến gặp họ hàng lần cuối.
Việc tái phát hiện người Zápara gốc Ecuador trở thành sự kiện nhân chủng
học nổi tiếng. Chính phủ công nhận quyền lãnh thổ của họ, mặc dù nó chỉ
tương đương một khu nhỏ trong đất đai của tổ tiên họ, UNESCO cấp một
khoản viện trợ để họ hồi sinh văn hóa và bảo lưu ngôn ngữ. Vào thời điểm
đó, chỉ còn bốn thành viên trong bộ lạc có thể nói được thứ tiếng này, Ana
María Santi là một trong số đó. Khu rừng họ từng biết gần như biến mất: họ
đã học cách đốn cây bằng rựa sắt và đốt gốc cây để trồng khoai mì từ những
người xâm lược Quichua. Sau mỗi vụ thu hoạch, khoảnh đất đó sẽ bị bỏ
hoang trong nhiều năm; ở khắp nơi, khu rừng lá tán cao chót vót đã bị thay
thế bằng những cây nguyệt quế, mộc lan và cọ copa thứ sinh khẳng khiu.
Giờ đây, khoai mì là lương thực chính của họ, được tiêu thụ hàng ngày dưới
dạng chicha. Zapara đã sống sót đến thế kỷ 21, nhưng họ bước tới trong hơi
men chuếnh choáng, và cứ giữ nguyên lối sống ấy.
Họ vẫn săn bắt, nhưng nay thì những người đàn ông có thể phải đi nhiều
ngày mà vẫn không tìm được một con lợn lòi hay chim cút nào. Họ đã phải
chuyển sang săn khỉ nhện, trước đây ăn thịt chúng là điều cấm kỵ. Ana
María lại đẩy chiếc bát do cô cháu gái dâng lên sang một bên, trong bát chứa
miếng thịt màu sô-cô-la với một bàn chân không ngón nhỏ. Bà hất chiếc cằm
xương xẩu về phía món thịt khỉ hầm bị từ chối. “Khi chúng ta đã đến nước
phải ăn thịt tổ tiên của mình,” bà hỏi, “liệu sẽ còn lại gì đây?”
Cách xa những khu rừng và thảo nguyên của tổ tiên, số ít người trong
chúng ta vẫn còn cảm nhận được mối liên hệ với các tổ tiên động vật xa xưa
của mình. Việc bộ lạc Zápara vùng Amazon thực sự có được khả năng đó
thật đáng kinh ngạc, vì sự kiện loài người thoát li khỏi những loài động vật
linh trưởng khác đã xảy ra ở một châu lục khác. Tuy nhiên, gần đây chúng ta
lại dần dần linh cảm được điều Ana María muốn nói. Kể cả khi không bị đẩy
tới cảnh phải trở thành những kẻ ăn thịt người, phải chăng chúng ta vẫn sẽ
phải đối mặt với những lựa chọn nghiệt ngã khi lẩn tránh tương lai?
Cách đây một thế hệ, loài người đã lảng tránh thảm hoạ hủy diệt nguyên
tử; nhờ may mắn, chúng ta sẽ tiếp tục né tránh được nó và nhiều mối đe doạ
kinh hoàng khác. Nhưng hiện tại, chúng ta lại thường xuyên nhận ra mình
đang tự hỏi liệu có phải chúng ta đang vô tình hạ độc hoặc hun nóng hành
tinh, bao gồm cả chính bản thân mình không. Chúng ta cũng lạm dụng nước
và đất trồng đến mức chúng chỉ còn lại rất ít, và tiêu diệt hàng ngàn giống
loài khiến chúng có lẽ sẽ không bao giờ tái xuất hiện nữa. Thế giới của
chúng ta, như vài tiếng nói đáng kính đã cảnh báo, một ngày nào đó có thể sẽ
thoái hóa thành thứ gì đó giống hệt một khu đất bỏ hoang, nơi lũ quạ và
chuột lẩn trốn giữa đám cỏ dại, săn lùng lẫn nhau. Nếu điều đó có xảy ra
thật, thì khi nào là thời điểm mà con người chúng ta, với tất cả trí thông minh
tuyệt đỉnh đáng tán dương của mình, không còn nằm trong số những kẻ sống
sót nữa?
Sự thật là, chúng ta không biết. Mọi phỏng đoán đều bị xáo trộn bởi chính
bản tính cứng đầu, không dám thừa nhận rằng điều tồi tệ nhất có thể xảy ra
của chúng ta. Có lẽ chúng ta bị chính bản năng sinh tồn của mình hủy hoại,
thứ bản năng đã được mài giũa qua hàng niên kỷ giúp chúng ta phủ nhận, coi
thường, hoặc phớt lờ những điềm báo thảm hoạ do lo sợ rằng chúng sẽ khiến
chúng ta tê liệt vì hoảng loạn.
Nếu những bản năng đó lừa phỉnh chúng ta, để đến nỗi loài người cứ
ngoan cố chờ đợi cho tới khi đã quá muộn, thì đó là một điều xấu. Nếu
chúng giúp củng cố sức chịu đựng của chúng ta đối với điềm gở, thì đó lại là
điều tốt. Hơn một lần, niềm hy vọng điên rồ, ngoan cố đã khơi nguồn cảm
hứng cho những hành động sáng tạo giúp cứu vớt loài người khỏi bị diệt
vong. Vì thế, chúng ta hãy thử một thí nghiệm sáng tạo thế này: Giả sử điều
tồi tệ nhất đã xảy ra. Nhân loại diệt chủng là việc đã rồi. Không phải do thảm
họa hạt nhân, do va chạm của thiên thạch, hoặc bất kỳ thảm họa nào đủ sức
phá hủy hầu hết những thứ khác, bỏ lại một trái đất trong tình trạng kiệt quệ
hoàn toàn. Cũng không phải một kịch bản sinh thái bi thảm nào đó, trong đó
chúng ta tàn lụi trong đau đớn cùng nhiều chủng loài khác.
Thay vào đó, hãy tưởng tượng về một thế giới khi chúng ta đột nhiên biến
mất. Ngày mai.
Có lẽ rất khó có chuyện đó, nhưng cũng chưa hẳn là bất khả. Giả sử một
loại vi rút chỉ có độc tính với riêng loài Homo sapiens – có trong tự nhiên
hoặc được chế tạo từ một thứ công nghệ nano đen tối nào đó – đã trừ khử
toàn bộ chúng ta nhưng không gây tổn hại đến những thứ khác. Hay một gã
phù thủy thù ghét nhân loại bằng cách nào đó đã phá hủy 3.9 % DNA quyết
định sự khác biệt giữa loài người và tinh tinh, hay hoàn thiện phương pháp
khiến chúng ta vô sinh. Hay giả sử rằng Chúa Jesus – sau này ta sẽ nói nhiều
hơn về Ngài – hay người ngoài hành tinh đã dụ dỗ chúng ta đến một thiên
đường rực rỡ hoặc một sở thú nào đó trong thiên hà.
Hãy nhìn xung quanh bạn, nhìn thế giới của hôm nay. Nhà của bạn, thành
phố của bạn. Những vùng đất lân cận, những vỉa hè và lớp đất bên dưới đó.
Hãy giữ tất cả ở nguyên vị trí, chỉ loại bỏ loài người. Hãy quét sạch chúng ta,
và xem điều gì sẽ còn lại. Phần còn lại của thế giới sẽ phản ứng như thế nào
nếu đột nhiên được giải thoát khỏi những áp lực tàn nhẫn mà ta dồn lên hành
tinh và những chủng loài khác? Liệu khí hậu sẽ hoặc có thể trở lại như trước
khi chúng ta đốt nóng tất cả động cơ nhanh đến đâu?
Trong bao lâu trái đất sẽ có thể khôi phục lại những vùng đất đã mất và lại
trở thành Vườn địa đàng lung linh và tỏa hương như trước khi Adam, hoặc
Homo habilis, xuất hiện? Liệu tự nhiên có thể xóa sạch mọi dấu vết của
chúng ta? Làm thế nào nó có thể xóa bỏ những thành phố và công trình công
cộng vĩ đại của chúng ta, và biến vô số sản phẩm từ chất dẻo và chất tổng
hợp độc hại trở thành các thành tố cơ bản, lành tính? Hay phải chăng một số
loại vật chất có cấu tạo quá phi tự nhiên, đến mức không thể phân hủy?
Còn những tạo tác đẹp đẽ của chúng ta thì sao –những công trình kiến
trúc, nghệ thuật, và rất nhiều những biểu tượng tinh thần của chúng ta? Liệu
có điều gì thực sự trường tồn với thời gian không, ít nhất cho đến khi mặt
trời nở ra và nung Trái đất của chúng ta thành tro bụi?
Thậm chí sau sự kiện đó, liệu chúng ta có thể lưu lại một dấu vết mờ nhạt,
vĩnh viễn nào đó trong vũ trụ này hay không; một thứ hào quang vĩnh cửu,
hoặc một âm vang về loài người trên Trái đất; một dấu hiệu liên hành tinh
nào đó chứng tỏ rằng chúng ta đã từng tồn tại nơi đây?
Để cảm nhận thế giới sẽ như thế nào nếu không có chúng ta, trước tiên
chúng ta phải xem lại thế giới trước khi có loài người. Chúng ta không phải
là những nhà du hành vượt thời gian, và những dấu vết hóa thạch chỉ là
những mẫu vật rời rạc. Thậm chí nếu vết tích đó có hoàn chỉnh, tương lai
cũng sẽ không thể phản ánh chính xác quá khứ. Chúng ta đã đẩy một số
giống loài vào cảnh tuyệt diệt, triệt để tới mức chúng, hoặc ADN của chúng,
có khả năng sẽ không bao giờ xuất hiện trở lại. Bởi chúng ta đã làm một vài
điều không thể đảo ngược, nên những gì còn lại khi chúng ta biến mất sẽ
không thể giống hệt như hành tinh khi chúng ta chưa từng tiến hoá ban đầu.
Nhưng cũng không thể quá khác biệt. Thiên nhiên đã từng trải qua nhiều
mất mát tồi tệ trước đây, và cũng đã chữa lành những vết thương. Thậm chí
đến ngày nay, vẫn còn sót lại một vài khu vực trên trái đất, nơi tất cả giác
quan của chúng ta có thể tận hưởng những ký ức sống động về một Vườn địa
đàng trước khi chúng ta xuất hiện. Chắc chắn chúng đang mời gọi chúng ta
suy nghĩ về viễn cảnh thiên nhiên sẽ hưng thịnh như thế nào nếu giả thiết
này xảy ra.
Vì chúng ta đang tưởng tượng, tại sao chúng ta lại không mơ về cách thức
tự nhiên sẽ phát triển không dựa trên sự diệt vong của chúng ta? Xét cho
cùng, chúng ta cũng chỉ là một loài động vật có vú. Mọi dạng sống đều tham
gia vào hoạt cảnh lịch sử vĩ đại này. Khi nhân loại cáo chung, liệu hành tinh
này có suy tàn đi vì thiếu vắng những đóng góp của chúng ta không?
Có khi nào, thay vì nhẹ nhõm vì vứt bỏ được gánh nặng sinh học khổng
lồ, thế giới phi nhân loại lại thấy nhớ chúng ta?
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
PHẦN I
Chương 1.
LÀN HƯƠNG ĐỊA ĐÀNG CÒN SÓT LẠI
Có lẽ bạn chưa bao giờ nghe đến Bialowieza Puszcza. Nhưng nếu bạn lớn
lên ở đâu đó trong khu vực ôn đới vắt ngang phần lớn Bắc Mỹ, Nhật Bản,
Hàn Quốc, Nga, một vài nước trong Liên bang Xô Viết cũ, một phần Trung
Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Đông và Tây Âu – bao gồm Quần đảo Anh – một phần
nào đó trong sâu thẳm con người bạn sẽ nhớ ra nó. Và nếu bạn được sinh ra
tại lãnh nguyên hay sa mạc, vùng cận nhiệt hay nhiệt đới, đồng hoang hay
thảo nguyên, vẫn còn vài nơi trên thế giới tương tự như puszcza sẽ khuấy
động trí nhớ của bạn.
Puszcza, một từ Ba Lan cổ, nghĩa là “rừng nguyên sinh.” Trải đều dọc
theo biên giới giữa Ba Lan và Pelarus, dải Bialowieza Puszcza rộng nửa triệu
mẫu Anh bao chứa những khoảnh rừng già đất thấp cuối cùng còn sót lại ở
Châu Âu. Hãy nghĩ về một khu rừng mù sương e ấp lờ mờ hiện ra trong tầm
mắt như trong những câu chuyện cổ tích của anh em nhà Grimm mà bạn
được nghe kể khi còn bé thơ. Ở đây, cây tần bì và cây đoan vươn tới chiều
cao 45 – 50 mét, tán lá khổng lồ của chúng che phủ tầng thực vật ẩm ướt, um
tùm bên dưới gồm có những cây trăn, cây dương xỉ, cây tổng quán sủi đầm
lầy và những tai nấm to bằng chiếc đĩa. Ở đây, những cây sồi, được bọc
trong lớp rêu năm trăm tuổi, mọc tốt đến mức chim gõ kiến đốm vĩ đại có
thể cất trữ quả vân sam trong những rãnh sâu tới năm phân trên vỏ cây. Bầu
không khí, đặc quánh và mát mẻ, được ấp ủ trong sự tĩnh mịch, thỉnh thoảng
lại bị ngắt quãng bởi tiếng kêu bi ai của một chú chim bổ hạt, tiếng hót thâm
trầm của một chú cú lùn, hoặc tiếng tru rền rĩ của một con chó sói, để rồi, lại
chìm trong lặng im.
Mùi hương tỏa ra từ vô số lớp đất mùn tích tụ ở trung tâm khu rừng lắng
nghe nguồn gốc xa xưa của sự màu mỡ. Ở Bialowieza, sự sống trù phú phụ
thuộc rất nhiều vào những thứ đã chết. Gần như một phần tư lớp chất hữu cơ
nằm trên mặt đất đang ở trong nhiều giai đoạn phân hủy khác nhau – gần 40
mét khối thân cây và cành gãy mục rữa trên mỗi mẫu đất đang cung cấp chất
dinh dưỡng cho hàng ngàn loại nấm, địa y, bọ cánh cứng, ấu trùng, và vi
khuẩn đã không còn tồn tại trong những khu cây trồng được quản lý, quy
hoạch quy củ, vẫn được coi là rừng ở những nơi khác.
Những loài này trở thành thức ăn trong một cái chạn gỗ khổng lồ, giúp
nuôi béo chồn, chồn mactet nâu, gấu mèo châu Mỹ, lửng, rái cá, cáo, linh
miêu, sói, hoẵng, nai sừng tấm và đại bàng. Tại đây người ta tìm thấy nhiều
chủng loài sinh vật hơn bất kỳ nơi nào khác trên lục địa – tuy vậy khu vực
này không có núi bao quanh hay thung lũng bảo vệ để hình thành những
chủng loại sinh vật bản địa đặc trưng độc đáo. Bialowieza Puszcza đơn giản
chỉ là di tích của một khu rừng một thời đã kéo dài tới phía đông sang
Siberia và phía tây sang Ireland.
Không có gì đáng ngạc nhiên khi di sản sinh học nguyên vẹn này tồn tại
được giữa Châu Âu là nhờ vào đặc quyền cao. Trong thế kỷ thứ 14, một vị
công tước người Lát-vi tên là Wladyslaw Jagielîo, đã thành công trong việc
hình thành một liên minh giữa lãnh địa công tước to lớn của ông với Vương
quốc Ba Lan. Sau đó, ông tuyên bố khu rừng là khu vực săn bắn độc quyền
của hoàng gia. Qua hàng thế kỷ, nó vẫn được giữ nguyên như thế. Khi liên
minh Ba Lan - Lát-vi bị Nga thâu tóm, Bialowieza trở thành lãnh địa riêng
của Sa hoàng. Mặc dù quân xâm lược Đức mặc sức khai thác gỗ và săn thú
trong Thế chiến thứ nhất, phần rừng nguyên thủy ở giữa vẫn được giữ
nguyên vẹn, và đến năm 1921, nó trở thành công viên quốc gia Ba Lan. Dưới
thời Xô Viết, tình trạng cướp bóc gỗ lại tiếp tục trong một thời gian ngắn,
nhưng khi Đức Quốc Xã xâm chiếm, một người theo trường phái sùng bái tự
nhiên tên là Hermann Goring đã ra sắc lệnh tuyên bố toàn bộ vùng này là
vùng cấm lui tới, trừ khi có sự chuẩn y của ông.
Sau Thế chiến thứ hai, người ta đồn rằng vào một buổi tối ở Warsaw,
Josef Stalin, khi ấy đang ngà ngà hơi men, đã đồng ý cho Ba Lan giữ lại hai
phần năm khu rừng. Có rất ít thay đổi dưới thời cộng sản, ngoại trừ việc xây
dựng một số ngôi nhà săn bắn đặc biệt. Thỏa thuận giải tán Liên bang Xô
Viết thành các quốc gia tự do đã được ký kết vào năm 1991 tại một trong số
các ngôi nhà đó - nhà săn bắn Viskuli. Nhưng hoá ra, dưới thời nền dân chủ
Ba Lan và độc lập Belarus, khu bảo tồn cổ xưa này lại bị đe dọa nhiều hơn
so với bảy thế kỷ cai trị của các hoàng đế và nhà độc tài. Bộ lâm nghiệp cả
hai quốc gia đều tăng cường quản lý để bảo vệ sức khỏe của Puszcza. Tuy
nhiên, quản lý rốt cuộc chỉ là mỹ từ dùng để chỉ việc khai thác và buôn bán
các loại gỗ cứng trưởng thành lẽ ra sẽ trở thành nguồn dinh dưỡng tự nhiên
cho khu rừng vào một ngày đẹp trời nào đó.
Thật sửng sốt khi nghĩ rằng toàn bộ châu Âu đã từng có thời giống như
Puszcza. Bước vào đó, ta sẽ nhận ra rằng hầu hết chúng ta đã được nuôi
dưỡng thành một bản sao mờ nhạt của những gì tự nhiên đã mưu tính. Khi
ngắm nhìn những cây tổng quán sủi với thân rộng tới hai mét, hoặc đi giữa
những hàng cây cao nhất ở đây – cây vân sam Na Uy khổng lồ, xù xì như
một cây Methuselah – lẽ ra sẽ gây ra cảm giác xa lạ, hệt như khi những
người vốn sinh trưởng ở miền rừng thứ sinh yếu ớt ở khắp Bắc bán cầu nhìn
thấy rừng Amazon hay Châu Nam Cực vậy. Song điều đáng ngạc nhiên là,
chúng ta lại có cảm giác thật gần gũi. Và, ở một cấp độ tế bào nào đó, thật
trọn vẹn nữa.
Andrzej Bobiec ngay lập tức nhận ra điều này. Là một sinh viên ngành
lâm học ở Krakow, anh được đào tạo về quản lý rừng để tối đa hóa năng
suất, bao gồm cả việc loại bỏ lớp rác sinh học “thừa thãi” vì sợ rằng nó sẽ
nuôi dưỡng những loài gây hại như bọ cánh cứng. Vì thế, trong một lần đến
thăm nơi này, anh đã kinh ngạc khi phát hiện ra sự đang dạng sinh học nhiều
gấp 10 lần so với bất kỳ khu rừng nào anh từng thấy.
Đó là nơi duy nhất còn sót lại đủ chín loài chim gõ kiến Châu Âu, bởi vì,
anh nhận ra rằng, một vài loài trong số chúng chỉ làm tổ trên những thân cây
chết rỗng ruột. “Chúng không thể tồn tại trong rừng được quản lý,” anh tranh
luận với các giáo sư lâm học của mình. “Bialowieza Puszcza đã tự quản lý
cực hoàn hảo trong hàng thiên niên kỷ.”
Thành ra, chàng trai cán bộ lâm nghiệp người Phần Lan trẻ tuổi với hàm
râu quai nón lại trở thành một nhà lâm sinh học. Anh được ban quản lý công
viên quốc gia Ba Lan tuyển dụng. Nhưng rốt cuộc, lại bị sa thải vì dám
chống lại các kế hoạch quản lý dự tính khai thác quá gần trung tâm nguyên
thủy của Puszcza. Trong nhiều tập san quốc tế, anh chống đối những chính
sách cho rằng “rừng sẽ chết nếu thiếu sự giúp đỡ tận tâm của chúng ta,” hoặc
những luận điệu bào chữa rằng việc đốn gỗ ở khu vực đệm xung quanh
Bialowieza là để “tái thiết tính nguyên sinh của rừng.” Anh kêu rằng, lối suy
nghĩ rắc rối này đã lan rộng trong nhóm những người châu Âu không còn
chút ký ức nào về rừng rậm hoang dã.
Để giữ gìn mối dây kết nối với ký ức của mình, trong suốt nhiều năm, mỗi
ngày anh đều xỏ đôi ủng da và lội bộ xuyên qua Puszcza thân yêu. Mặc dù
bản thân quyết liệt bảo vệ những khu vực rừng chưa bị con người quấy
nhiễu, song Andrzej Bobiec vẫn không thể cưỡng nổi cám dỗ của chính bản
chất con người trong mình.
Một mình trong khu rừng, Bobiec đã đạt được sự đồng cảm vượt thời gian
với những bằng hữu Homo sapiens. Sự hoang dã thuần khiết tới mức này
chính là bản danh sách trắng ghi nhận hành trình nhân loại: một bản ghi chép
mà anh đã học được cách đọc hiểu. Những lớp than củi trên đất chỉ cho anh
biết nơi những đấu thủ đã từng dùng lửa phát hoang rừng để lấy cành non.
Những hàng cây bu-lô và cây dương lá rung đang run rẩy minh chứng cho
thời kỳ hậu duệ của Jagiello xao lãng việc săn bắn, có lẽ vì chiến tranh, kéo
dài đủ lâu để những chủng loài ưa sáng tái chiếm cứ khu đất từng bị phát
hoang. Dưới bóng râm của chúng mọc lên những cây gỗ non như tiết lộ rằng
chính loài gỗ cứng đã có mặt ở đây từ trước. Dẫn dần, những cây này sẽ lấn
lướt cây bu-lô và cây dương lá rung cho đến khi chúng phát triển như thể
chưa từng biến mất.
Khi Bobiec vô tình bắt gặp một loại cây bụi bất thường như táo gai hoặc
một cây táo già, anh biết rằng mình đang đứng ngay trên nấm mồ của một
ngôi nhà gỗ đã bị phá hủy cách đây rất lâu bởi chính những con vi khuẩn có
khả năng biến những thân cây khổng lồ ở đây thành đất bồi. Bất kỳ một cây
sồi đơn độc đồ sộ nào mà anh tìm thấy mọc lên từ một ụ đất thấp phủ đầy cỏ
ba lá đều đánh dấu một nơi hỏa táng. Rễ cây đã hút chất dinh dưỡng từ tro
bụi của tổ tiên Slavic của người Belarus ngày nay, những người đến từ
phương đông cách đây 900 năm. Người Do Thái ở năm ngôi làng nhỏ xung
quanh mai táng người chết tại bìa rừng phía tây bắc. Những bia mộ bằng đá
sa thạch và đá hoa cương từ thập niên 1850, bị rễ cây đeo bám và kéo ngã,
đã bị mài mòn nhẵn đến mức chúng bắt đầu nom giống hệt những viên đá
cuội do những người họ hàng buồn đau của mình để lại, những người đã quá
cố cách đó rất lâu.
Andrzej Bobiec băng qua một trảng thông Scot màu lục lam, cách biên
giới Belarus chưa tới một dặm. Buổi xế chiều tháng mười thật vắng lặng, anh
có thể nghe được tiếng tuyết rơi. Bất thình lình, có tiếng xáo động phát ra từ
tầng cây bụi, và hơn chục con bò rừng bison– Bison Bonasus, bò rừng bison
Châu Âu – lao đến sau khi rời chỗ chúng gặm cây non. Chúng thở phì phò và
cào chân xuống đất, đôi mắt đen khổng lồ chỉ giương lên nhìn ngó chỉ trong
khoảng thời gian ngắn ngủi đủ để có thể làm những gì mà tổ tiên chúng đã
phát hiện rằng phải làm khi đối mặt với một trong những động vật hai chân
yếu đuối giả tạo này: bỏ trốn.
Chỉ còn 600 con bò rừng bison Châu Âu còn sót lại trong tự nhiên, gần
như tất cả đều tập trung ở đây – hoặc chỉ một nửa, tuỳ thuộc vào định nghĩa
ở đây là thế nào. Một tấm màn sắt chia đôi thiên đường này, được người Xô
Viết dựng lên vào năm 1980 dọc theo biên giới để ngăn cản người đào tẩu
theo phong trào đoàn kết nổi loạn ở Ba Lan. Mặc dù chó sói đã đào lỗ ở dưới
chân, và người ta tin rằng hoẵng và nai sừng tấm có thể nhảy qua hàng rào,
bầy động vật có vú lớn nhất châu Âu vẫn bị chia cắt, và cùng với nó, là quỹ
gen - chia cắt và suy giảm nghiêm trọng, như một số nhà động vật học lo sợ.
Sau Thế chiến thứ nhất, bò rừng ở các sở thú đã từng được mang đến đây để
bổ sung cho một chủng loài đang gần tuyệt chủng vì các binh sỹ đói khát.
Giờ đây, tàn dư của Chiến tranh Lạnh lại đe dọa chúng.
Belarus, rất lâu sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, vẫn không tháo dỡ
tượng Lê-nin và cũng không thể hiện ý định gì là sẽ phá hủy hàng rào, nhất
là khi biên giới Ba Lan hiện nay đã là biên giới của Liên minh Châu Âu.
Mặc dù hai trụ sở công viên của hai quốc gia chỉ cách nhau 14 km, nhưng để
nhìn thấy Belovezhskaya Pushcha, theo cách gọi ở Belarus, một du khách
nước ngoài phải lái xe 100 dặm xuống phía nam, đón tàu hỏa băng qua biên
giới đến thành phố Brest, trải qua một cuộc thẩm vấn vô vị, và thuê một
chiếc xe lái ngược lên phía bắc. Đồng nhiệm người Belarus và người đồng
chí hướng của Andrzej Bobiec, Heorhi Kazulka, là một nhà sinh học chuyên
nghiên cứu động vật không xương sống có vẻ ngoài xanh xao, nhợt nhạt và
là nguyên phó giám đốc của rừng nguyên sinh nằm bên phía Belarus. Ông
cũng bị ban quản lý công viên quốc gia sa thải vì đã dám phản đối một trong
những hạng mục xây dựng mới nhất của công viên – xưởng cưa. Ông không
thể mạo hiểm để người khác trông thấy mình đi với một người Tây Âu. Bên
trong căn hộ Brezhnev-era, nơi ông sinh sống ở bìa rừng, ông mời trà khách
tham quan với vẻ tiếc nuối và thao thao bất tuyệt về giấc mơ của mình về
một công viên quốc tế hòa bình, nơi bỏ rừng bison và nai sừng tấm Bắc Mỹ
được rong chơi và sinh sản tự do.
Những cây khổng lồ ở rừng Pushcha giống hệt như những cây ở Ba Lan;
cũng là những cây hoa mao lương vàng, địa y và lá sồi đỏ bản to; cũng là
những chú đại bàng đuôi trắng đang bay lượn, bất chấp hàng rào dây thép gai
sắc lẹm bên dưới. Thật ra, ở cả hai phía, khu rừng đang thật sự sinh sôi phát
triển, vì người làm nông đã rời khỏi những ngôi làng đang bị thu hẹp để lên
các thành phố. Trong khí hậu ẩm ướt này, cây bu-lô và cây dương lá rung
nhanh chóng xâm chiếm những cánh đồng khoai tây bỏ hoang; chỉ trong
vòng hai thập kỷ, đất nông nghiệp đã nhường chỗ cho đất rừng. Bên dưới tán
lá của những cây tiên phong, sồi, thích, địa y, cây đu, và cây vân sam đang
tái sinh. Nếu 500 năm không có loài người, một khu rừng thật sự sẽ có thể sẽ
trở lại.
Ý nghĩ về một vùng nông thôn châu Âu ngày nào đó sẽ trở lại thành rừng
nguyên thủy thật đáng phấn khởi. Nhưng trừ phi những con người cuối cùng
còn tồn tại biết điều mà gỡ bỏ bức màn sắt Belarus trước khi ra đi, bằng
không những chú bò rừng có thể sẽ tàn lụi theo họ.
Cây sồi 500 năm tuổi ở rừng
Bialowieza Puszcza, thuộc Phần Lan. (Ảnh của Janusk Korbel).
Chương 2.
SAN BẰNG NHÀ CỬA
“'Nếu anh muốn phá hủy một cái nhà kho,' một nông dân > có lần đã nói
với tôi, 'hãy khoét một cái lỗ với diện tích một trăm hai mươi cm vuông trên
mái. Rồi đứng chờ.'”
– Kiến trúc sư Chris Riddle
Amherst, Massachusetts
Vào ngày nhân loại biến mất, thiên nhiên lên nắm quyền và lập tức bắt tay
vào dọn dẹp nhà cửa – nói đúng hơn là rất nhiều nhà cửa. Quét sạch chúng
khỏi bề mặt Trái đất. Tất cả rồi sẽ biến hết.
Nếu là chủ một ngôi nhà, bạn đã biết rằng với ngôi nhà của mình, đó chỉ là
vấn đề thời gian, nhưng bạn vẫn không chịu thừa nhận, thậm chí khi sự xói
mòn tấn công không thương tiếc, bắt đầu bằng tiền tiết kiệm của bạn. Quay
lại thời điểm bạn được báo giá nhà, không ai đề cập đến những gì bạn phải
chi trả để thiên nhiên không thu hồi căn nhà của bạn trước cả khi ngân hàng
làm điều đó.
Thậm chí nếu bạn sống trong một khu vực hậu hiện đại đã biến tính sâu
sắc, nơi những cỗ máy nặng nề hàng phục phong cảnh thiên nhiên, thay thế
quần thể thực vật tự nhiên ngang ngược bằng những thảm cỏ ngoan ngoãn và
những cây non giống hệt nhau, san lấp những đầm lầy trên danh nghĩa chính
đáng là kiểm soát muỗi – ngay cả khi đó, bạn vẫn biết rằng thiên nhiên
không hề sợ hãi. Dù bạn cách ly môi trường điều hoà nhiệt độ trong nhà và
thời tiết bên ngoài kĩ càng đến mấy, các bào tử vô hình vẫn sẽ thâm nhập vào
nhà bạn, và bùng nổ với những cơn bộc phát của nấm mốc – thật kinh khủng
khi bạn nhìn thấy chúng, nhưng nếu bạn không nhìn thấy thì tình hình còn bi
đát hơn, bởi vì chúng ẩn bên dưới những bức tường phủ sơn, nhấm nháp
những lớp giấy bên trong tấm thạch cao, làm mục rữa đinh vít và dầm sàn.
Hoặc bạn sẽ bị mối, kiến đục gỗ, gián, ong bắp cày thậm chí là các loài thú
nhỏ xâm lược.
Tuy nhiên, trên hết, bạn sẽ bị bao vây bởi một thứ mà trong những bối
cảnh khác lại là nguồn sống đích thực: nước. Nước luôn luôn muốn chảy vào
nhà.
Sau khi chúng ta biến mất, sự báo thù của thiên nhiên đối với tính ưu việt
cơ khí hóa, tự mãn của chúng ta sẽ đến từ đường thủy. Bắt đầu từ những
công trình có khung gỗ, kỹ thuật xây dựng nhà ở phổ biến nhất tại những
nước phát triển. Nó bắt đầu từ trên mái nhà, thường được lợp bằng nhựa
đường hoặc ngói, được cam đoan có độ bền kéo dài hai đến ba thập kỷ nhưng sự bảo đảm này không tính đến khu vực xung quanh ống khói, nơi
xuất hiện sự rò rỉ đầu tiên. Khi những tấm ngăn nước bị tách rời dưới sự tấn
công bền bỉ của mưa, nước rỉ vào bên dưới lớp ngói lợp. Nước chảy qua
những tấm ngói lợp kích thước 1,2 x 2,4 m, làm bằng gỗ dán hoặc, nếu mới
hơn, bằng ván gỗ ép dày mười đến mười ba cm được tạo thành từ những
phiến gỗ, ghép lại với nhau bằng nhựa thông.
Mới hơn chưa chắc đã tốt hơn. Wernher Von Braun, nhà khoa học người
Đức đã phát triển chương trình không gian Hoa Kỳ, từng kể một câu chuyện
về Tướng John Glenn, người Mỹ đầu tiên bay vòng quanh Trái đất. “Vài
giây trước khi cất cánh, khi Glenn đang ngồi chết dí trong chiếc tên lửa mà
chúng tôi chế tạo cho ông và mọi nỗ lực đỉnh cao của nhân loại tất cả đều tập
trung cho khoảnh khắc đó, bạn có biết ông ấy tự nói gì với bản thân không?
'Ôi Lạy Chúa! Con đang ngồi trên một đống hàng rẻ tiền!'”
Bên trong ngôi nhà mới của mình, bạn cũng đang ngồi trong một thứ
tương tự. Một mặt, điều đó hoàn toàn đúng: bằng cách xây dựng mọi thứ thật
rẻ và nhẹ, chúng ta đang sử dụng nguồn lực thế giới ít hơn. Mặt khác, những
thân cây khổng lồ dùng làm cột và xà gỗ hảo hạng chống đỡ các bước tường
thời trung cổ ở châu Âu, Nhật Bản và châu Mỹ trong thời kỳ đầu, nay đã trở
nên quá đắt đỏ và quý hiếm, vì vậy chúng ta buộc phải thay tạm bằng cách
lắp ghép những mảnh và mẫu gổ nhỏ hơn.
Loại nhựa thông được sử dụng trong mái gỗ ép giá cả phải chăng của bạn,
một loại chất nhờn không thấm nước làm từ formaldehyde và phenol
...
 
Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân





