HÀNH KHÚC TRƯỜNG TRẦN QUÝ CÁP HỘI AN
Miền thơ ấu

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 22h:50' 20-11-2024
Dung lượng: 946.1 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 22h:50' 20-11-2024
Dung lượng: 946.1 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
LỜI NÓI ĐẦU
Khi đặt bút viết những dòng đầu tiên của cuốn sách mà bạn đang cầm trong
tay, tôi không dám tin rằng sẽ có ngày nó được thấy ánh sáng mặt trời.
Nó ra đời như một may mắn không ngờ, như nhờ một phép màu.
Đối với tôi, nó có ý nghĩa đặc biệt. Một thời, nó đã là người bạn tâm tình,
là cái nạng cho tôi vịn vào mà đi trên con đường vô định.
Mùa đông năm 1967 là một mùa đông giá buốt, ít nhất là cho tôi, trong cái
xà lim không có sưởi và không có quần áo ấm. Trong mùa đông ấy, không
hiểu vì sao, tôi cảm thấy nhớ quê hương nhiều hơn bất cứ lúc nào. Cái đầu
tiên gợi nhớ đến quê hương là mùi khói cay nồng từ những đống lá mà
phu quét đường đốt lên để sưởi, ở bên kia bức tường đá của nhà tù. Ở quê
tôi người ta thường đốt những đống rấm như thế để khói ngăn sương
muối sà xuống những vườn rau. Mùi khói thoang thoảng lọt vào xà lim gây
nên một nỗi nhớ cồn cào, da diết.
Gối đầu trên đôi tay, tôi nằm dài trên phản xi măng lạnh ngắt mà thả hồn
về quá khứ, tự hứa thể nào rồi mình cũng phải viết một cuốn sách về cái
làng bùn lầy nước đọng quê hương. Cái làng nhỏ nhoi và nghèo khổ ấy gắn
liền với thời thơ ấu của tôi, cái thời không mấy hạnh phúc nếu đứng ngoài
nhìn vào, nhưng tuyệt đẹp đối với tôi, mà cũng có thể đối với bất cứ ai
từng có một cái quê để mà nhớ.
Lúc ấy tôi không nghĩ rằng cuốn sách tôi định viết sẽ được thực hiện
không phải ở nơi nào khác, mà trong nhà tù. Ở Hỏa Lò tù nhân bị cấm đủ
thứ, nhất là viết, hoặc đọc. Một mẩu giấy báo bị quản giáo phát hiện trong
xà lim cũng là một cái tội, người tù giấu nó sẽ bị kỷ luật cùm chân, bị cắt
"tiếp tế". Trong năm tù đầu tiên tôi chưa có đủ kinh nghiệm để biết rằng
khi cần thiết người tù có thể làm được những việc anh ta không bao giờ
ngờ tới.
Ở trại quân pháp Bất Bạt (Sơn Tây) sự sống trong xà lim còn tệ hơn ở Hỏa
Lò. Tôi hoàn toàn bị cắt đứt với thế giới bên ngoài. Nếu ở Hỏa Lò người
tù xà lim còn có thể đoán biết được một sự kiện nào đó xảy ra bên kia
những bức tường và hàng rào dây kẽm gai nhờ nghe ngóng được động thái
của bạn đồng cảnh ở các xà lim cùng khu, thì ở Bất Bạt cái đó hoàn toàn
không có. Những người bị giam ở đây, bên cạnh xà lim tôi, thường đã qua
thời kỳ hỏi cung (thẩm vấn). Họ yên tâm nằm chờ, tháng này qua tháng
khác, mà cũng có thể năm này qua năm khác, nhưng họ có cái để mà chờ:
đó là ngày chắc chắn sẽ được ra tòa lĩnh án. Án có thể ngắn, có thể dài,
nhưng họ sẽ được trở về khi mãn hạn. Những người tù chính trị, lại là thứ
có tên gọi mỹ miều là “xử lý nội bộ”, thì không thể có xử, cứ việc nằm đấy,
không chờ.
May cho tôi, ở trại này trong một lần "tiếp tế" vợ tôi lén lút giúi cho tôi
một cây bút bi Trung Quốc hai màu. Tôi có một đam mê khó hiểu đối với
những cây bút. Vợ tôi biết người ta chẳng đời nào cho tù nhận thứ đồ quốc
cấm ấy nhưng đã mang nó cho tôi, tôi sẽ có cách giấu. Tôi vờ xin đi vệ
sinh, ở đó tôi kín đáo phá nát cây bút quý giá ấy, chôn những mảnh vỡ của
nó xuống đất, rồi luồn hai cái ruột bút bi vào nẹp áo bông để mang vào xà
lim.
Cuốn sách bắt đầu từ ấy, mùa thu năm 1969.
Tôi mải mê viết những trang đầu tiên trên vỏ bao thuốc lá, trên giấy kẹo,
trên những riềm báo cũ mà gia đình bọc đồ "tiếp tế" (đến lúc đó nhà cầm
quyền đã rộng lượng cho phép chúng tôi được giữ lại một số tờ giấy có in
chữ, nhưng phải là thứ cũ, hết sạch thời gian tính). Viết phải rất cẩn thận,
không được lãng phí những mẩu giấy hiếm hoi, lại phải canh chừng lính
gác năm phút mươi phút một lần lượn lờ qua phòng giam để kiểm tra.
Những mẩu "bản thảo" lắt nhắt không thể xếp thành trang, phải đánh số rõ
ràng để không lẫn lộn, được gom lại, được cất giấu bằng mọi cách trong
cái xà lim nhỏ hẹp. Sau đó là những ngày chờ đợi đến lần được gặp gia
đình kế tiếp thì tuồn cho mẹ tôi, vợ tôi mang ra. Khi viết được nhiều, bản
thảo tích lại khá dày cũng gây ra mối lo. Mà những cuộc gặp lại khôngcó
kỳ có hạn, gia đình muốn gặp thì làm đơn, khi nào người ta rộng lượng cho
gặp thì được gặp. Được cái từ năm tù thứ ba trở đi đám quản giáo coi nhà
tiếp tế không còn khám xét kỹ mỗi lần tôi được gặp gia đình nữa. Vả lại,
chẳng cần khám làm gì - chúng tôi đâu có biết ngày nào tháng nào được
gặp vợ con đâu mà chuẩn bị. Tôi bao giờ cũng sẵn sàng, cho nên lần nào
gặp gia đình cũng chuyển ra ngoài được một ít bản thảo.
Về sau này, trong xà lim trại Tân Lập (Phú Thọ), việc viết không còn khó
như trước, mặc dầu vẫn phải canh chừng để không bị phát giác. Sau nhiều
lần yêu cầu kiên trì, chúng tôi thậm chí còn được người ta chiếu cố cho
phép gia đình mang cho giấy bút và vài cuốn tiểu thuyết ngoại quốc để
đọc.
Cuốn sách hình thành dần dần, từng ít một.
Một lần các nhân viên công an nghi ngờ tôi chuyển gì ra, họ chặn mẹ tôi và
vợ tôi lại để khám, nhưng hai người đã mang được những mẩu giấy của tôi
ra ngoài trót lọt.
Khi những bản thảo đã gom được kha khá, các em tôi - Vũ Chí Dũng, Vũ
Thu Hương và Vũ Thu Hòa - hì hục chép lại. Năm 1976, sau chín năm tù,
tôi trở về thì đã có một bản thảo hoàn chỉnh. Các em tôi còn đánh máy ra
làm mấy bản sạch sẽ để những người thân đọc.
Mẹ tôi đọc xong, bảo:
- Mẹ thích. Nhưng sách không in được đâu. Một là, tên của con bị cấm. Hai
là, chuyện một nhà, một làng, liệu mấy ai quan tâm?
Bố tôi nhận xét:
- Dù sao thì nó cũng ghi lại dấu vết một thời kỳ của nông thôn Việt Nam
vùng Thiên Chúa giáo. Cứ để đấy, nó sẽ có ích sau này. Cho những nhà
nghiên cứu chẳng hạn.
Tôi không có ý định viết cho những nhà nghiên cứu. Họ chẳng cần đến tôi.
Tôi cũng chẳng có ý định viết để in. Tôi viết vì đó là công việc duy nhất
mà tôi có thể làm trong sự ăn không ngồi rồi bất đắc dĩ. Tôi viết vì tôi
thèm được làm công việc mà tôi yêu thích. Tôi viết, ít nhất thì cũng để cho
các con tôi, chúng không biết thời thơ ấu của tôi đã trôi qua thế nào. Mà
chắc gì sẽ có ngày tôi kể được cho các con tôi nghe?
Hồi ở trại Bất Bạt tôi không nghĩ tới ngày về. Không ít người đã nằm lại
trong các nghĩa trang nhà tù. Những nghĩa trang ấy, thường ở sườn đồi,
nếu có đồi, hoặc ở một bãi hoang giữa rừng. Trong cái sự tù của chúng tôi
nghĩ tới ngày về là ý nghĩ ngu ngốc.
Ý nghĩ viết cuốn sách để lại cho các con đã làm cho cuốn Miền Thơ Ấu có
một sắc thái riêng. Nó là hồi ký, nhưng trong lần in đầu tiên nhà xuất bản
đặt nó vào loại tiểu thuyết. Trên bìa sách cũng đề rõ Miền Thơ Ấu - tiểu
thuyết. Hồi ấy ở Việt Nam chỉ có loại hồi ký là hồi ký cách mạng, do các
lãnh tụ kể cho các nhà văn ghi. Người thường không ai viết hồi ký, không
được viết hồi ký. Để nó vào dạng tiểu thuyết thì dễ in hơn.
Còn có một lẽ nữa, là cuốn sách có hình thức giống tiểu thuyết trong cách
viết, trong cách miêu tả nhân vật, dựng lại đối thoại. Tuy nhiên, tên người,
tên đất trong cuốn này được giữ nguyên, không thay đổi. Người trong họ
ngoài làng sẽ nhận ngay ra người quen khi đọc. Mà người làng tôi thì
không quan tâm đến chuyện cuốn sách mà họ đọc thuộc thể loại gì.
Tôi cho rằng có thể chép cuộc đời vào sách và tạo ra cho nó một dáng vẻ
nghệ thuật, nếu ta nhìn đời theo cách nghệ thuật.
Cuốn sách nằm lâu trong đống giấy má vàng úa của một thời chữ nghĩa.
Tôi cũng chẳng có thời giờ để ý tới nó vì còn bận đánh vật với những thí
nghiệm, chạy đi chạy lại các cơ quan nhà nước kiếm hợp đồng làm hàng
gia công, là việc có ích cho sự kiếm sống. Từ khi ra tù tôi làm đủ mọi thứ
nghề tạp nham, trong đó việc sản xuất hàng hoá liên quan tới hóa chất cho
các tổ hợp thủ công nghiệp đem lại nhiều tiền hơn cả.
Mãi tới năm 1987, anh bạn Lê Phát, biên tập viên đài Tiếng nói Việt Nam,
một người tò mò thích văn chương, đã khui nó ra trong đống giấy má bừa
bộn của tôi. Lê Phát đọc một lèo, anh thích nó, bèn đưa cho nhà xuất bản
Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, nơi nhà văn Hà Mậu Nhai làm giám
đốc. Hà Mậu Nhai cũng đọc một lèo, rồi nhắn tôi đến chơi. Anh tỏ ý muốn
in cuốn sách. Tôi ngăn anh:
- Anh không biết có một chỉ thị cấm in tôi sao?
- Tôi biết.
- Vậy mà anh vẫn quyết định in?
Hà Mậu Nhai nói:
- Chừng nào chưa có trước mặt tôi một văn bản pháp luật trong đó ghi rõ
quyết định của tòa án cấm không được in Vũ Thư Hiên thì tôi vẫn in. Tôi
không ngán những lệnh miệng và những chỉ thị nội bộ. Tôi in, và còn in tên
Vũ Thư Hiên to hơn bình thường nữa kia.
Tôi ngần ngừ. Tôi không muốn vì cuốn sách của mình mà bạn mình mang
vạ. Hà Mậu Nhai nói chỉ cần tôi đồng ý cho in. Tôi miễn cưỡng đồng ý.
Cuốn sách được in ra. Tên tác giả được in to hơn bình thường, đúng như
Hà Mậu Nhai nói. Hà Mậu Nhai là một nhà văn nhưng không có chân trong
Hội Nhà Văn. Anh chỉ có chân trong Xã Hội Những Người Tử Tế.
Năm sau Miền Thơ Ấu được giải thưởng loại A của Hội nhà văn Việt
Nam, tức là giải nhất, cho sách dành cho thiếu nhi, mặc dầu nhà xuất bản
không đưa nó vào danh sách tác phẩm dự thi. Trong chuyện này Hà Mậu
Nhai nghĩ như tôi, sách được in ra là tốt rồi, mong gì được giải. Việc trao
giải thưởng năm ấy là sự kiện lớn. Đã nhiều năm chuyện xét và trao giải
thưởng văn học bị xếp lại, vì chiến tranh, và vì văn chương là cái sự không
ra gì, một thứ xướng ca vô loài, dưới mắt các nhà lãnh đạo. Chủ tịch Hội
đồng xét giải là nhà văn Tô Hoài. Phùng Quán cũng được giải thưởng, loại
B, với tiểu thuyết ba tập Tuổi Thơ Dữ Dội. Hai tên tội đồ, một Xét Lại
Hiện Đại, một Nhân văn-Giai phẩm, chiếm hai giải thưởng nhất nhì trong
một cuộc thi văn chương, là quá lố. Nhưng đã là năm 1988, hai năm sau
khi Đảng cộng sản tuyên bố "đổi mới" và "cởi trói". Nếu là những năm
trước, việc làm ngang bướng của Hà Mậu Nhai ắt bị trừng trị. Anh vẫn
ngồi yên trên ghế giám đốc cho tới khi qua đời, ba năm sau.
Giải thưởng này đối với tôi là bất ngờ, không kém gì việc nó được in ra.
Khi mọi người cho tôi biết các báo đều đã đăng tin, tôi mới biết. Việc cuốn
sách kể chuyện tầm phào về một làng quê khỉ ho cò gáy mà được giải, lại
giải cao, là điều khó tin.
Tô Hoài hiển nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc trao giải lần này. Uy
tín của nhà văn già đã thắng tính bảo thủ của các cơ quan lãnh đạo tư tưởng
của đảng cộng sản.
Sau đó, đài phát thanh Sài Gòn đọc Miền Thơ Ấu trong chương trình "Đọc
truyện đêm khuya", nhà xuất bản Kim Đồng ở Hà Nội tái bản một lần, rồi
hai lần...
So với bản thảo, cuốn Miền Thơ Ấu trong lần in đầu tiên được rút gọn còn
một nửa theo yêu cầu của nhà xuất bản. Vì không có giấy. Giấy vào những
năm ấy đắt khiếp đảm.
Lần xuất bản sau ở hải ngoại không thiếu giấy nhưng lại thiếu những trang
bản thảo bị bỏ ra nọ. Chúng nằm lại ở Việt Nam, cách tôi quá xa, không
phải xa theo khoảng cách địa lý, mà bởi những khó khăn. Tôi cũng không
tìm cách bổ khuyết. Cuốn sách đã có cuộc sống riêng của nó, diện mạo của
nó. Chưa chắc gì một sự thay đổi sẽ làm cho nó đẹp hơn. Những gì bị bỏ ra
ngoài trong lần xuất bản đầu tiên rồi sẽ được đặt vào một lần xuất bản
khác, hoặc một chỗ khác.
Câu chuyện về một chú bé trong cuộc gặp gỡ với quê hương của chú đã
tìm được độc giả của nó. Thì ra quê hương của một người, nếu nói về nó
bằng tình yêu chân thật, từ trái tim mình, thì cũng mang dáng dấp quê
hương của bất kỳ ai khác, trong sự đồng điệu của tâm hồn.
Tôi bao giờ cũng nhớ về tuổi thơ của mình với tất cả niềm thương yêu dịu
dàng, bởi vì tuổi thơ của ai cũng vậy, nó chứa đựng những tình cảm đẹp
nhất mà cuộc đời có thể cho ta, khi nắng bao giờ cũng lấp lánh và gió bao
giờ cũng ngát hương. Nơi miền đất tuổi thơ, mỗi đám mây bay ngang cũng
gợi ta hình dung ra những xứ xở xa xôi từ đó nó bay đến, mặt trăng rằm
nào cũng bắt ta phải ngắm nhìn để tìm ra bóng dáng cây đa với chú Cuội cổ
tích, thậm chí một con chuồn chuồn ngô cũng có phép màu làm cho ta biết
bơi.
Bạn đã bao giờ cho chuồn chuồn ngô cắn rốn chưa? Nếu bạn đã được một
con chuồn chuồn ngô cắn rốn một lần để được sặc sụa một lần trong dòng
sông quê hương thì bạn là người hạnh phúc đấy.
Tôi đã đọc những dòng viết ấm áp và chân thành, và lạ thay, bao giờ cũng
đầy nuối tiếc, về tuổi thơ trong sáng của mình nơi Lev Tolstoi, Maxim
Gorky hay Paul Vaillant-Couturier.
Chúa Giê-su Ki-ri-xi-tô dạy: "Hãy như con trẻ!"
Tôi chưa được nghe lời nào thông thái hơn.
Nếu tất cả những con người sống trên mặt đất này biết nâng niu gìn giữ
trái tim con trẻ trong mình thì chúng ta đã không phải chứng kiến những gì
xấu xa mà chúng ta phải chứng kiến: chiến tranh, nhà tù, và mọi sự hành
hạ mà con người hàng ngày gây ra cho đồng loại.
Bằng cuốn sách bé nhỏ này, tôi muốn chia sẻ với bạn đọc tình cảm trìu
mến đối với những gì quý báu nhất trong cuộc đời, những gì bạn và tôi
đều có nhưng chóng quên, ở một miền thơ ấu của mỗi chúng ta.
VTH.
I
Tôi tỉnh giấc vì những tiếng động mạnh.
Quờ tay sang bên không thấy mẹ, tôi mắt nhắm mắt mở lồm cồm chui ra
ngoài màn. Khi đã hết chói mắt vì ánh điện sáng choang từ phòng ngoài hắt
vào, tôi nhìn thấy mẹ tôi đứng tựa lưng vào đố cửa nối liền hai phòng. Mặt
mẹ tôi như hóa đá. Hai tay khoanh trước ngực, bà im lặng nhìn ra phòng
ngoài, nơi thấp thoáng nhiều người lạ mặt. Tôi bước xuống đất, mãi mới
xỏ được chân vào guốc. Loạng choạng vì ngái ngủ, tôi nem nép đi tới bên
mẹ. Tưởng tôi định bước ra phòng ngoài, mẹ tôi giữ tôi lại, hai tay đặt nặng
lên vai tôi
Bố tôi ngồi trên một chiếc ghế tựa được lôi khỏi bàn ăn, ở sát tường. Vẻ
bất cần, ông bình thản hút thuốc, không buồn nhìn đến đám người lạ mặt
nhâng nháo đi lại và lục tung mọi vật trong phòng. Tiếng động làm tôi thức
giấc là tiếng sách bị quăng xuống sàn. Ngôi nhà gia đình chúng tôi thuê
hồi đó có hai phòng thêm một ngăn nhỏ chứa đồ tạp nham và bếp. Phòng
ngoài được dùng làm phòng ăn, cũng là phòng làm việc của bố tôi. Một tủ
sách lớn chiếm gần trọn bức tường. Bên cạnh tủ sách là cái giường nhỏ,
khi nào làm việc mệt, bố tôi có thể ngả lưng tại chỗ. ông có thói quen đọc
sách khuya. Chắc bố tôi bị bỏ dở công việc vì những người khách này.
Trên bàn, một cuốn sách dày còn để mở.
Trong đám mật thám tới khám nhà tôi đêm đó có một người Pháp. Hắn
ngồi ở bàn ăn, đối diện với bố tôi ở một khoảng cách xa, mặt dửng dưng
như thể hắn không có ý muốn tham dự vào công việc của đám thuộc hạ.
Nhìn thấy tôi, bố tôi mỉm cười. Cái nhìn trìu mến, vỗ về. Tôi hiểu, bố
muốn tôi đừng sợ. Không có gì đâu, cái nhìn nói: chuyện thường ấy mà,
con đã biết thừa là chuyện gì rồi, phải thế không nào?
Tôi không sợ. Bọn mật thám tới khám nhà tôi không phải đây là lần đầu.
Có lần chúng khám chán rồi bỏ đi, có lần chúng bắt bố tôi, mang đi. Ít lâu
sau, chúng thả. Mật thám là loại người kỳ cục. Chúng chẳng giống ai,
nhưng nếu để ý một chút là có thể nhận ra chúng, ngay giữa đám đông. Nét
đặc biệt của chúng là không bao giờ đường hoàng, lúc nào cũng thậm thụt,
cũng lấm lét, dường như chúng cố giấu đi cái vẻ ăn không ngồi rồi nghề
nghiệp in dấu trên mặt chúng, trên hình hài chúng, cái dáng vẻ phân biệt
chúng với những người bình thường, những người thế nào cũng phải bận
bịu với một công việc lương thiện hoặc không lương thiện nào đó. Vào
thời kỳ bấy giờ mật thám thường khoác áo các thầy ký nghèo sở tư, các
tay thầu khoán long đong, các gia sư trẻ rạc người lê gót đi kiếm việc. Tùy
theo vai phải đóng, những tên mật thám học mặc áo chùng thâm, quần
trắng, đi ô, hoặc vận âu phục tàu, giày tây tàng, mũ dạ. Cái chung của
chúng là cặp kính râm đen kịt. Tại sao chúng cứ phải kè kè cái cặp kính tố
cáo chúng ấy, tôi không hiểu.
Dạo ấy, trong nhà tôi thường xuyên có bè bạn của bố mẹ tôi đến ở. Có
người chỉ đến vài ngày, có người ở lại hàng tháng, trở thành người trong
nhà. Nhà chật, họ dọn dẹp bàn ghế lại, nằm la liệt trên sàn gạch hoa. Những
con người hiếu động, vui vẻ này lúc nào cũng làm ầm ĩ ngôi nhà nhỏ bé
của chúng tôi bằng những bữa ăn đông đúc, những cuộc tranh luận ầm ĩ, rất
nhiều cãi vã, nhưng không có giận nhau. Đột nhiên, họ biến mất, hầu như
tất cả. Ngôi nhà vắng hẳn. Mẹ tôi có vẻ lo âu. Đêm, nhiều lần tôi tỉnh giấc
thấy mẹ tôi vẫn chưa ngủ, mắt chong chong.
Tuần trước, bố tôi sai tôi vẽ một con cò trên bức tường quét vôi vàng ở
đầu phố, chỗ ngã tư. Tôi nắn nót vẽ bằng gạch non, rất rõ. Con cò khá đẹp,
nhưng đáng tiếc, nó là con cò mù, bởi vì nó không có mắt. Tôi chỉ hiểu tại
sao bố tôi lại bảo tôi vẽ con cò mà lại dặn kỹ không được vẽ nó có mắt khi
chiều qua bố tôi sai tôi vẽ nốt cho nó con mắt còn thiếu. Thì ra con mắt báo
cho những người đến nhà tôi biết có nguy hiểm, họ không được tới nữa,
cần phải rẽ ngay sang đường khác. Mối nguy hiểm đó là số lượng mật
thám quanh quẩn bên nhà chúng tôi tăng lên đột ngột. Rất có thể chúng sẽ
úp một mẻ tại đây. Nhưng chúng tới muộn và đã úp trượt.
Tên mật thám Pháp ngồi thẳng đuỗn, hai tay thả dài trên bàn, mặt bất động,
bên trong hai tròng mắt là hai hòn bi ve lạnh lẽo. Điếu thuốc lá kẹp nơi bàn
tay phải bốc khói, tàn đã dài nhưng hắn không vẩy đi, cũng không đưa lên
hút. Hình như sau cái vẻ thờ ơ bề ngoài ấy, thính giác của hắn đang làm
việc căng thẳng. Hắn chăm chú theo dõi tiếng dội lại của viên gạch hoa mỗi
lần tên mật thám thấp, bé, mắt hấp háy, dùng ba-toong gõ vào đấy.
Những tên khác lặng lẽ tiến hành việc lục soát. Sách báo trong tủ bị rỡ tung
tóe, quăng bừa xuống sàn. Chúng cẩn thận gõ vào từng vách tủ, hi vọng tìm
thấy một ngăn bí mật. Một số lục soát quần áo của bố tôi. Chúng lộn tung
các túi sờ nắn từng nẹp áo, nẹp quần. Mẹ tôi bĩu môi trong nụ cười khinh
bỉ. Cái lũ bẩn thỉu này ra điều sạch sẽ, chúng chỉ đụng tới quần áo bằng ba
ngón tay - ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa, hai ngón còn lại vểnh ra, nhất là
ngón út cong lên với vẻ ghê tởm, dường như chúng sợ những quần áo mà
chúng buộc phải đụng đến sẽ dây bẩn ra tay chúng.
Sau phòng ngoài, bọn mật thám lần đến phòng trong. Tôi đọc thấy một
thoáng lo ngại trong mắt mẹ tôi. Buổi chiều, có một nhà sư tới, ông đưa
cho bố tôi một bức thư nhỏ xíu cuộn tròn như que tăm cài trong tấm khăn
nâu quấn trên đầu. Bố tôi xem xong, cuộn bức thư lại như cũ và nhét vào
kẽ nứt giữa đố cửa và tường. Thường bố tôi đốt thư đi sau khi xem xong,
nhưng lần này ông để lại, chắc còn phải chuyển tiếp đi nơi khác. Tôi thấy
tim mình như ngừng đập khi một tên đeo kính trắng lấy tay gõ gõ vào đố
cửa. Nhưng ngón tay hắn đi lướt qua chỗ đó, chỗ giấu bức thư, rồi gõ tiếp
trên những chỗ khác. Tôi thở phào, nhẹ nhõm. Bố tôi liếc mắt nhìn tôi,
bình thản hút tiếp một hơi thuốc.
Bọn mật thám làm việc trong im lặng. Chúng chỉ trao đổi với nhau đôi câu,
khi thật cần thiết.
Sau hai giờ lục soát từ trên nhà xuống bếp, chúng chẳng tìm được gì, ngoài
mấy cuốn sách tiếng Pháp mà chúng thấy cần thu, coi như tang vật. Nhìn
những cuốn sách của mình bị buộc lại, đặt lên bàn ăn, trước mặt tên mật
thám Pháp, bố tôi nhún vai, nói bằng tiếng Pháp:
- Hình như các ông lầm, đó là mấy cuốn sách tôi mua ở hiệu, đều là sách
do các ông cho phép bán.
- Rất có thể là như vậy. - tên mật thám Pháp trả lời, hắn cũng chẳng buồn
nhìn đến những cuốn sách ấy - Những cuốn sách có bán ở hiệu trong thời
kỳ Mặt Trận Bình dân đã trở thành không còn hợp pháp. Vào thời kỳ Mặt
trận đó đã hết uy thế, ông hiểu chứ?
- Không, tôi không hiểu. Nói chung, nền văn minh Pháp ở thuộc địa trước
nay vẫn là một nền văn minh khó hiểu.
Tên Pháp, đứng lên, hờ hững đỡ cái ba-toong từ hai tay tên thấp bé có cặp
mắt hấp háy. Cuộc đối thoại ngắn ngủi đó tôi ghi lại theo lời mẹ, nhiều
năm sau. Bà thường kể lại cho chúng tôi nghe những kỷ niệm vui buồn
trong đời bà. Một tên mật thám trẻ nhất bọn, lực lưỡng, nước da đen sạm
tiến về phía bố tôi, đôi mắt nhiều lòng trắng hắt ra những tia lạnh lẽo.
- Xin lỗi!
Tên Pháp nói, nhìn vào tay bố tôi. Bố tôi nhếch mép cười, đưa hai tay ra.
Một tiếng cách khô khan, cái còng đã ngậm chặt hai cổ tay bố tôi.
Tên mật thám Pháp bước ra cửa, những tên còn lại lục tục theo sau.
Trong bóng đêm phố vắng, tôi nhìn thấy bố tôi bị du mạnh vào trong chiếc
xe hòm màu đen đã mở máy chờ sẵn. Tên mật thám Pháp bước lên theo.
Lũ thuộc hạ leo lên một xe khác. Tiếng động cơ nổ vang trong đêm. ánh
đèn đỏ ở sau xe xa dần rồi tắt ngấm.
Chị Tường, người trông chúng tôi, òa khóc. Mẹ tôi ôm lấy chị dìu vào
trong nhà.
1
- Quân Luy-xi-phe! Chúng nó làm tanh bành trong bếp, có vại dưa mới
muối cũng làm đổ cả ra kia, mợ xuống mà xem!
Đáng lẽ phải nguyền rủa quân Luy-xi-phe đã bắt bố tôi mang đi, chị lại
không nói ra điều đó, mà oán trách chúng làm lộn tùng phèo cái bếp mà chị
mất bao công phu giữ gìn cho nó luôn gọn gàng ngăn nắp.
Tội nghiệp, chị là người bạn thời thơ ấu của bố tôi, và chị thương bố tôi
biết mấy. Chúng tôi gọi chị bằng chị theo thói đời bấy giờ, vì chị là người
nhà nhưng ở vị trí người làm. Gần bằng tuổi bố tôi, mồ côi cả cha lẫn mẹ
từ thuở còn thơ, chị được ông bà nội tôi đón về nuôi, chị lớn lên trong nhà
ông bà tôi như một đứa con, nhưng không hiểu sao vẫn không được coi như
con nuôi. Khi tôi ra đời, bố tôi đưa chị lên Hà Nội, từ đó chị trông nom
chúng tôi chẳng khác gì người mẹ thứ hai.
Mẹ tôi không khóc. Bà ngồi thần ra một lúc, như thể bà không tin việc vừa
xảy ra là có thật, và giờ đây bà cần phải khẳng định với chính mình rằng
việc đó đã xảy ra, rằng bố tôi đã bị bắt thật, rằng ông sẽ không được ngủ
đêm nay ở nhà mà phải chịu thức trắng với những cực hình mà ông đã từng
nếm trải tại Sở Liêm Phóng. Rồi bà tần ngần nhặt từng cuốn sách lên, vuốt
lại cho khỏi quăn mép và xếp vào chỗ cũ. Chị Tường ngồi bên cạnh, vừa
khóc thút thít vừa giúp mẹ tôi thu dọn lại phòng ngoài. Hai người thức cho
tới khi trời sáng.
Điều đáng ngạc nhiên là không hiểu vì lẽ gì bọn mật thám chỉ xem qua loa
phòng ngủ chứ không khám kỹ như trong bếp và phòng khách. Vì thế các
em tôi vẫn ngủ say. Chúng chẳng biết chút gì về việc xảy ra trong đêm.
Sáng dậy, chúng vẫn nô đùa, vẫn vòi mẹ. Bố tôi thường vắng nhà, chúng đã
quen, thậm chí cũng chẳng buồn hỏi bố đâu. Tôi khác, tôi có một trí nhớ
đáng nguyền rủa. Những gì tôi chứng kiến tôi nhớ rất lâu, đến từng chi
tiết. Có một trí nhớ như vậy thật chẳng hay ho gì.
Nó là một cái vạ.
II
Tin tức từ trong tù báo ra cho biết: bố tôi sẽ bị đi an trí.
Đó là số phận chung của những người bị tình nghi có dính líu tới những
hoạt động chống lại Nhà nước Bảo hộ, nhưng là những người mà Nhà
nước Bảo hộ không có đủ chứng cứ để có thể đem ra xử và kết án. Cách
làm này thực dân Pháp học được của phát xít Đức. Trại an trí hay là "căng"
(camp), theo cách gọi thời ấy, chẳng qua chỉ là một cái tên khác của trại tập
trung (camp de concentration). Có nhiều "căng" cho tù chính trị, nhưng bố
tôi sẽ bị đi "căng" nào thì chưa biết.
Tạm thời, ông bị giam tại Hỏa Lò.
Có nhiều người Hà Nội chính gốc không biết lai lịch của Hỏa Lò. Phần
nhiều chỉ biết nó là nhà tù, nó ở đâu, và chỉ thế thôi. Tôi biết Hỏa Lò quá
sớm. Nó để lại cho tôi một ấn tượng nặng nề.
Tên thật của Hỏa Lò là Lao Trung ương (Mai son Centrale). Cái công trình
bằng đá hộc có bốn cạnh không đều này nằm lù lù giữa thành phố, bốn góc
có tháp canh lính gác ngày đêm. Nằm sát bên nó là Tha Đại Hình, cách một
con đường nhỏ. Tên Hỏa Lò là tên phố, đâu xưa kia ở phố này có nhiều
cửa hàng bán Hỏa Lò đất. Nhưng cái tên phố được dành cho nhà tù lại gợi
nghĩ đến một cái gì đó thiêu đốt, hành hạ bằng lửa, bằng sức nóng của thứ
bếp rừng rực than hồng. Những người đã từng ở bên trong Hỏa Lò nói
rằng bốn bức tường đá giăng quanh bị mặt trời hun nóng ban ngày, ban
đêm tiếp tục nhả lửa vào các xà lim cá nhân tối tăm và ngột ngạt. Về mùa
đông, Hỏa Lò tắt ngấm khí đá lạnh thấu xương. Nghe nói Hỏa Lò được
xây dựng cùng thời với Nhà Bưu Điện, Đồn Thủy và các trại lính trong
khu thành cổ. Nghĩa là khi có tín hiệu báo động, lính thủy và lính bộ của
thực dân Pháp sẽ từ các trại lính xông ra đàn áp các cuộc nổi dậy, bắt được
ai thì bỏ vào Hỏa Lò.
Thật là tiện.
Để được thăm bố tôi, mẹ tôi và tôi phải dậy sớm chầu chực ở chân tường
bên phải cửa vào, sát đường Hàng Bông Thợ Nhuộm. Đến giờ vào thăm tù
sẽ có một thầy ký ra gọi tên. Thầy ký này có vẻ mặt và dáng dấp trịnh trọng
không lẫn vào đâu được, đến nay tôi còn nhớ rõ. Gầy và xanh, vận com-lê
ẳ
trắng, nếp là thẳng tắp, đeo kính trắng, đi đứng khụng khiệng, ông ta cao
giọng gọi tên từng người được vào thăm tù theo cách riêng của ông ta:
- Le Đin Khoi!
- Tran Van Bik!
- Nguyen Thi Mai!
Cái lối gọi lơ lớ theo tiếng Pháp, không có dấu, của thầy ký làm cho nhiều
người lầm lẫn. Đám đông lộn xộn hỏi nhau, quát gọi í ới, rồi bỗng ai đó
chợt nhận ra người ta gọi đích tên mình chứ không phải người khác, vội tất
tưởi chạy về phía cổng.
Để vào tới chỗ thăm tù, chúng tôi phải qua ba lần cửa. Không kể lần cửa
ngoài cùng, bên dưới vòng cung đắp nổi hai chữ MAISON CENTRALE,
còn có một cửa sắt thưa, rồi một cửa sắt nữa, nhỏ hơn, dẫn vào một hành
lang quét vôi xám. Rẽ sang trái, chúng tôi rơi vào một căn phòng tối mờ,
ban ngày cũng phải thắp điện. Những người đi thăm tù ngồi đợi ngao ngán
trên những ghế dài.
Chỗ gặp là một tấm lưới thép chạy dài ngăn căn phòng thành một phòng
nữa nhỏ hơn. Bên tấm lưới ấy, những người nhà pha (người tù) nói chuyện
chõ ra với người nhà. Những mẩu đối thoại ngắn ngủi, tiếng gắt gỏng của
những viên giám thị, tiếng đàn bà khóc nức nở, tất cả làm thành một tiếng
ồn không dứt. Nền xi măng giội lên trần cao một lần nữa tiếng chân người
sàn sạt, tiếng thì thào tiếng ho bị bịt lại của những người đang nóng ruột
chờ tới lượt mình. Tất cả những cái đó đè nặng lên tôi. Tôi chỉ muốn mau
mau thoát ra khỏi căn phòng này để tới với khoảng không rực nắng và
thoáng đãng ngoài kia. Thậm chí tôi quên cả nỗi nhớ thèm được gặp bố,
chỉ mong sao cho cuộc đi thăm này sớm kết thúc. Bầu không khí ngột ngạt
làm cho đầu tôi váng vất.
Sau nửa giờ chờ đợi, tôi nghe thấy một giọng hách dịch và lạnh tanh kêu
tên bố tôi.
Mẹ tôi đứng bật dậy, lật đật chạy tới tấm lưới thép, tôi chạy sau. Từ trong
cửa ngách, bố tôi xuất hiện, mặt hốc hác, râu tua tủa nhiều ngày không
cạo. Nhưng bố tôi cười. Trong những phút hiểm nghèo, những lúc khó
khăn bao giờ bố tôi cũng cười, nụ cười làm cho người nhìn thấy yên lòng.
Tôi đứng bên mẹ, ngẩng đầu lên nhìn bố. Nói chuyện với mẹ, bố thỉnh
thoảng lại nháy mắt với tôi, có ý nói tôi đừng buồn, bố vẫn biết có tôi đứng
đấy, nhưng vì có chuyện quan trọng phải nói với mẹ đã, cho nên bố chưa
có thời giờ nói với tôi. Tôi hiểu, bố mẹ tôi dành những phút gặp gỡ hiếm
hoi này để thông tin cho nhau những điều mà bên ngoài hoặc bên trong nhà
tù cần phải biết, những chuyện khác chỉ là bề ngoài, để che giấu câu
chuyện chính.
Viên giám thị già, tay chắp sau lưng, đầu hơi cúi, đi đi lại lại dọc theo tấm
lưới thép. Bên trong, sát chỗ bố tôi đứng, một viên giám thị khác, mập lùn,
vẻ mặt ngán ngẩm, ngồi trên ghế tựa, luôn đổi chân vắt lên nhau và ngáp
vặt. Chung quanh, những người đến lượt gặp người nhà nói chuyện nhao
nhao cùng một lúc. Phần lớn tù được ra gặp người nhà là thường phạm. Có
thể phân biệt được hai loại tù: chính trị phạm có dáng trí thức, phong thái
đĩnh đạc. Thường phạm không thế - trong họ dấu ấn nguồn gốc bình dân
rất rõ. Ở góc xa có một chính trị phạm đang nói chuyện với mẹ. Tôi nhìn
thấy bà cụ tóc bạc phơ này từ khi đứng đợi ở bên ngoài, rất sớm.
Rồi cũng đến lúc mẹ tôi nhấc tôi lên cho tôi nói chuyện với bố. Tôi nhìn
thấy bố rất gần. Mặt hai bố con gần chạm nhau, chỉ cách có tấm lưới.
Bố tôi gầy quá, bây giờ tôi càng thấy rõ. Lưỡng quyền nhô cao, mắt trũng
sâu, đôi môi khô, nứt nẻ.
Chắc chúng nó đã tra điện bố tôi. Và ông đã rứt đứt cúc áo cắn chặt giữa
hai hàm răng để khỏi cắn vào lưỡi. Những câu chuyện về mật thám tra điện
thế nào tôi đã được nghe.
Chỉ cần nghiến chặt răng chịu đựng cho tới khi ngất đi là xong, những
người từng bị tra điện nói thế.
- Mẹ sẽ vất vả lắm đấy, con hiểu không? - bố tôi nói, giọng xúc động.
- Con hiểu ạ.
- Con lên bảy rồi, con đã lớn.
Bố định nói tiếp điều gì, rồi lại ngập ngừng.
- Con sẽ chăm học. - tôi vội nói cho bố yên lòng.
- Ừ, con phải chăm học. Nếu con học dốt, bố sẽ buồn.
- Con sẽ không chành chọe với các em.
- Phải chiều các em, bởi vì chúng nó bé hơn con.
- Vâng.
Viên giám thị mập lùn đứng lên, ngáp một cái dài. Rút trong túi áo cái đồng
hồ quả quít mạ bạc bóng loáng, ông ta bật nắp, nheo mắt lại để đọc giờ, rồi
đậy nắp lại đánh tách:
- Hết giờ!
Cánh cửa ghi-sê được mở ra cho mẹ tôi chuyển quà vào. Mẹ tôi đột ngột
ôm chặt tôi, đút vội tôi qua ghi-sê. Tôi chỉ giãy mạnh chân một cái là đã
nằm gọn trong vòng tay bố. Ông ôm ghì lấy tôi, hôn khắp mặt.
- Ê, bỏ ra, không được phép!
Bố tôi hôn tôi lần cuối, và đút tôi trở lại. Viên giám thị già giằng bố tôi ra
xa ghi-sê. Đôi lông mày rậm như hai con sâu róm của ông ta cau lại.
- Con về ở với cô Gái phải ngoan, con nhé!
Bố tôi dặn với. Đó là điều bố ngần ngừ mãi mới nói được với tôi.
Chắc chuyện này bố đã bàn với mẹ, nhưng tôi không nghe thấy. Mà cũng
có thể ông chỉ nói quyết định của mình, đến lúc ấy mới nói ra. Không phải
quyết định nào ông cũng bàn với vợ, tính ông thế.
Quyết định của bố làm tôi choáng váng. Mẹ tôi ôm chặt tôi, mắt đỏ hoe.
Bố tôi đi về phía cửa nách. Ông ngoảnh lại mất lần, kiễng chân lên để nhìn
chúng tôi cho rõ hơn. Ở cửa, ông dừng lại, đưa tay lên vẫy, gật đầu và mỉm
cười.
Một giọng hách dịch vang lên gọi tên một người nào đó.
- Con về ở với cô Gái phải ngoan, con nhé?
Trong đầu tôi văng vẳng câu nói của bố.
Ngoài trời, nắng lóa mắt. Tôi bước theo mẹ, nhưng không còn thấy sung
sướng được bước ra khỏi căn phòng tối mờ và ngột ngạt của Hỏa Lò như ít
phút trước tôi còn ham muốn.
III
Cô Gái là chị cả của bố tôi.
Ở trong họ tôi có lối xưng hô như vậy, chị của bố được gọi bằng cô.
Đó là một người đàn bà dường như chưa bao giờ trẻ; đối với tôi, bà vĩnh
viễn già kể từ khi tôi gặp. Vóc người cao lớn, xương xẩu, dáng đi thẳng
đuột, bà có bộ mặt quàu quạu, cái nhìn chê bai và soi mói, giọng nói lạnh
lùng. Bà ở nhà quê, thỉnh thoảng mới lên thăm các em trai ở Hà Nội. Một
hai năm một lần, bà xuất hiện ở nhà tôi với thúng quà đội trên đầu, bao giờ
cũng vẫn những thứ ấy: bột sắn dây, trứng cáy, rượu bách nhật làm bằng
nếp cẩm, gạo tám thơm, bánh quế, bánh đa khoai... Bà không mua một thứ
gì trong những món quà cố hữu ấy, tất cả do bà làm lấy bằng sản vật thu
hoạch từ ruộng nhà vườn nhà, là những thứ mà các em của bà đã quen
hương quen vị từ thuở còn thơ. Những ông em đứng tuổi nem nép trước bà
chị xét nét, các bà vợ ra sức chiều chuộng bà chị chồng lạnh lùng không
bao giờ bỏ lỡ dịp chứng tỏ cái quyền uy gia trưởng mà bà mang giữ.
Lũ cháu chúng tôi thích quà của bà, nhưng không yêu bà. Mà bà cũng
chẳng quan tâm đến chuyện chúng tôi có yêu bà hay không. Đối với bà,
con của các em là cháu bà, thế thôi. Một khái niệm không hàm cảm xúc. Ở
quê lên bà vẫy chúng tôi lại, gọi to tên từng đứa như tự nhắc mình cho khỏi
quên, lẩm bẩm học những ...
Khi đặt bút viết những dòng đầu tiên của cuốn sách mà bạn đang cầm trong
tay, tôi không dám tin rằng sẽ có ngày nó được thấy ánh sáng mặt trời.
Nó ra đời như một may mắn không ngờ, như nhờ một phép màu.
Đối với tôi, nó có ý nghĩa đặc biệt. Một thời, nó đã là người bạn tâm tình,
là cái nạng cho tôi vịn vào mà đi trên con đường vô định.
Mùa đông năm 1967 là một mùa đông giá buốt, ít nhất là cho tôi, trong cái
xà lim không có sưởi và không có quần áo ấm. Trong mùa đông ấy, không
hiểu vì sao, tôi cảm thấy nhớ quê hương nhiều hơn bất cứ lúc nào. Cái đầu
tiên gợi nhớ đến quê hương là mùi khói cay nồng từ những đống lá mà
phu quét đường đốt lên để sưởi, ở bên kia bức tường đá của nhà tù. Ở quê
tôi người ta thường đốt những đống rấm như thế để khói ngăn sương
muối sà xuống những vườn rau. Mùi khói thoang thoảng lọt vào xà lim gây
nên một nỗi nhớ cồn cào, da diết.
Gối đầu trên đôi tay, tôi nằm dài trên phản xi măng lạnh ngắt mà thả hồn
về quá khứ, tự hứa thể nào rồi mình cũng phải viết một cuốn sách về cái
làng bùn lầy nước đọng quê hương. Cái làng nhỏ nhoi và nghèo khổ ấy gắn
liền với thời thơ ấu của tôi, cái thời không mấy hạnh phúc nếu đứng ngoài
nhìn vào, nhưng tuyệt đẹp đối với tôi, mà cũng có thể đối với bất cứ ai
từng có một cái quê để mà nhớ.
Lúc ấy tôi không nghĩ rằng cuốn sách tôi định viết sẽ được thực hiện
không phải ở nơi nào khác, mà trong nhà tù. Ở Hỏa Lò tù nhân bị cấm đủ
thứ, nhất là viết, hoặc đọc. Một mẩu giấy báo bị quản giáo phát hiện trong
xà lim cũng là một cái tội, người tù giấu nó sẽ bị kỷ luật cùm chân, bị cắt
"tiếp tế". Trong năm tù đầu tiên tôi chưa có đủ kinh nghiệm để biết rằng
khi cần thiết người tù có thể làm được những việc anh ta không bao giờ
ngờ tới.
Ở trại quân pháp Bất Bạt (Sơn Tây) sự sống trong xà lim còn tệ hơn ở Hỏa
Lò. Tôi hoàn toàn bị cắt đứt với thế giới bên ngoài. Nếu ở Hỏa Lò người
tù xà lim còn có thể đoán biết được một sự kiện nào đó xảy ra bên kia
những bức tường và hàng rào dây kẽm gai nhờ nghe ngóng được động thái
của bạn đồng cảnh ở các xà lim cùng khu, thì ở Bất Bạt cái đó hoàn toàn
không có. Những người bị giam ở đây, bên cạnh xà lim tôi, thường đã qua
thời kỳ hỏi cung (thẩm vấn). Họ yên tâm nằm chờ, tháng này qua tháng
khác, mà cũng có thể năm này qua năm khác, nhưng họ có cái để mà chờ:
đó là ngày chắc chắn sẽ được ra tòa lĩnh án. Án có thể ngắn, có thể dài,
nhưng họ sẽ được trở về khi mãn hạn. Những người tù chính trị, lại là thứ
có tên gọi mỹ miều là “xử lý nội bộ”, thì không thể có xử, cứ việc nằm đấy,
không chờ.
May cho tôi, ở trại này trong một lần "tiếp tế" vợ tôi lén lút giúi cho tôi
một cây bút bi Trung Quốc hai màu. Tôi có một đam mê khó hiểu đối với
những cây bút. Vợ tôi biết người ta chẳng đời nào cho tù nhận thứ đồ quốc
cấm ấy nhưng đã mang nó cho tôi, tôi sẽ có cách giấu. Tôi vờ xin đi vệ
sinh, ở đó tôi kín đáo phá nát cây bút quý giá ấy, chôn những mảnh vỡ của
nó xuống đất, rồi luồn hai cái ruột bút bi vào nẹp áo bông để mang vào xà
lim.
Cuốn sách bắt đầu từ ấy, mùa thu năm 1969.
Tôi mải mê viết những trang đầu tiên trên vỏ bao thuốc lá, trên giấy kẹo,
trên những riềm báo cũ mà gia đình bọc đồ "tiếp tế" (đến lúc đó nhà cầm
quyền đã rộng lượng cho phép chúng tôi được giữ lại một số tờ giấy có in
chữ, nhưng phải là thứ cũ, hết sạch thời gian tính). Viết phải rất cẩn thận,
không được lãng phí những mẩu giấy hiếm hoi, lại phải canh chừng lính
gác năm phút mươi phút một lần lượn lờ qua phòng giam để kiểm tra.
Những mẩu "bản thảo" lắt nhắt không thể xếp thành trang, phải đánh số rõ
ràng để không lẫn lộn, được gom lại, được cất giấu bằng mọi cách trong
cái xà lim nhỏ hẹp. Sau đó là những ngày chờ đợi đến lần được gặp gia
đình kế tiếp thì tuồn cho mẹ tôi, vợ tôi mang ra. Khi viết được nhiều, bản
thảo tích lại khá dày cũng gây ra mối lo. Mà những cuộc gặp lại khôngcó
kỳ có hạn, gia đình muốn gặp thì làm đơn, khi nào người ta rộng lượng cho
gặp thì được gặp. Được cái từ năm tù thứ ba trở đi đám quản giáo coi nhà
tiếp tế không còn khám xét kỹ mỗi lần tôi được gặp gia đình nữa. Vả lại,
chẳng cần khám làm gì - chúng tôi đâu có biết ngày nào tháng nào được
gặp vợ con đâu mà chuẩn bị. Tôi bao giờ cũng sẵn sàng, cho nên lần nào
gặp gia đình cũng chuyển ra ngoài được một ít bản thảo.
Về sau này, trong xà lim trại Tân Lập (Phú Thọ), việc viết không còn khó
như trước, mặc dầu vẫn phải canh chừng để không bị phát giác. Sau nhiều
lần yêu cầu kiên trì, chúng tôi thậm chí còn được người ta chiếu cố cho
phép gia đình mang cho giấy bút và vài cuốn tiểu thuyết ngoại quốc để
đọc.
Cuốn sách hình thành dần dần, từng ít một.
Một lần các nhân viên công an nghi ngờ tôi chuyển gì ra, họ chặn mẹ tôi và
vợ tôi lại để khám, nhưng hai người đã mang được những mẩu giấy của tôi
ra ngoài trót lọt.
Khi những bản thảo đã gom được kha khá, các em tôi - Vũ Chí Dũng, Vũ
Thu Hương và Vũ Thu Hòa - hì hục chép lại. Năm 1976, sau chín năm tù,
tôi trở về thì đã có một bản thảo hoàn chỉnh. Các em tôi còn đánh máy ra
làm mấy bản sạch sẽ để những người thân đọc.
Mẹ tôi đọc xong, bảo:
- Mẹ thích. Nhưng sách không in được đâu. Một là, tên của con bị cấm. Hai
là, chuyện một nhà, một làng, liệu mấy ai quan tâm?
Bố tôi nhận xét:
- Dù sao thì nó cũng ghi lại dấu vết một thời kỳ của nông thôn Việt Nam
vùng Thiên Chúa giáo. Cứ để đấy, nó sẽ có ích sau này. Cho những nhà
nghiên cứu chẳng hạn.
Tôi không có ý định viết cho những nhà nghiên cứu. Họ chẳng cần đến tôi.
Tôi cũng chẳng có ý định viết để in. Tôi viết vì đó là công việc duy nhất
mà tôi có thể làm trong sự ăn không ngồi rồi bất đắc dĩ. Tôi viết vì tôi
thèm được làm công việc mà tôi yêu thích. Tôi viết, ít nhất thì cũng để cho
các con tôi, chúng không biết thời thơ ấu của tôi đã trôi qua thế nào. Mà
chắc gì sẽ có ngày tôi kể được cho các con tôi nghe?
Hồi ở trại Bất Bạt tôi không nghĩ tới ngày về. Không ít người đã nằm lại
trong các nghĩa trang nhà tù. Những nghĩa trang ấy, thường ở sườn đồi,
nếu có đồi, hoặc ở một bãi hoang giữa rừng. Trong cái sự tù của chúng tôi
nghĩ tới ngày về là ý nghĩ ngu ngốc.
Ý nghĩ viết cuốn sách để lại cho các con đã làm cho cuốn Miền Thơ Ấu có
một sắc thái riêng. Nó là hồi ký, nhưng trong lần in đầu tiên nhà xuất bản
đặt nó vào loại tiểu thuyết. Trên bìa sách cũng đề rõ Miền Thơ Ấu - tiểu
thuyết. Hồi ấy ở Việt Nam chỉ có loại hồi ký là hồi ký cách mạng, do các
lãnh tụ kể cho các nhà văn ghi. Người thường không ai viết hồi ký, không
được viết hồi ký. Để nó vào dạng tiểu thuyết thì dễ in hơn.
Còn có một lẽ nữa, là cuốn sách có hình thức giống tiểu thuyết trong cách
viết, trong cách miêu tả nhân vật, dựng lại đối thoại. Tuy nhiên, tên người,
tên đất trong cuốn này được giữ nguyên, không thay đổi. Người trong họ
ngoài làng sẽ nhận ngay ra người quen khi đọc. Mà người làng tôi thì
không quan tâm đến chuyện cuốn sách mà họ đọc thuộc thể loại gì.
Tôi cho rằng có thể chép cuộc đời vào sách và tạo ra cho nó một dáng vẻ
nghệ thuật, nếu ta nhìn đời theo cách nghệ thuật.
Cuốn sách nằm lâu trong đống giấy má vàng úa của một thời chữ nghĩa.
Tôi cũng chẳng có thời giờ để ý tới nó vì còn bận đánh vật với những thí
nghiệm, chạy đi chạy lại các cơ quan nhà nước kiếm hợp đồng làm hàng
gia công, là việc có ích cho sự kiếm sống. Từ khi ra tù tôi làm đủ mọi thứ
nghề tạp nham, trong đó việc sản xuất hàng hoá liên quan tới hóa chất cho
các tổ hợp thủ công nghiệp đem lại nhiều tiền hơn cả.
Mãi tới năm 1987, anh bạn Lê Phát, biên tập viên đài Tiếng nói Việt Nam,
một người tò mò thích văn chương, đã khui nó ra trong đống giấy má bừa
bộn của tôi. Lê Phát đọc một lèo, anh thích nó, bèn đưa cho nhà xuất bản
Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, nơi nhà văn Hà Mậu Nhai làm giám
đốc. Hà Mậu Nhai cũng đọc một lèo, rồi nhắn tôi đến chơi. Anh tỏ ý muốn
in cuốn sách. Tôi ngăn anh:
- Anh không biết có một chỉ thị cấm in tôi sao?
- Tôi biết.
- Vậy mà anh vẫn quyết định in?
Hà Mậu Nhai nói:
- Chừng nào chưa có trước mặt tôi một văn bản pháp luật trong đó ghi rõ
quyết định của tòa án cấm không được in Vũ Thư Hiên thì tôi vẫn in. Tôi
không ngán những lệnh miệng và những chỉ thị nội bộ. Tôi in, và còn in tên
Vũ Thư Hiên to hơn bình thường nữa kia.
Tôi ngần ngừ. Tôi không muốn vì cuốn sách của mình mà bạn mình mang
vạ. Hà Mậu Nhai nói chỉ cần tôi đồng ý cho in. Tôi miễn cưỡng đồng ý.
Cuốn sách được in ra. Tên tác giả được in to hơn bình thường, đúng như
Hà Mậu Nhai nói. Hà Mậu Nhai là một nhà văn nhưng không có chân trong
Hội Nhà Văn. Anh chỉ có chân trong Xã Hội Những Người Tử Tế.
Năm sau Miền Thơ Ấu được giải thưởng loại A của Hội nhà văn Việt
Nam, tức là giải nhất, cho sách dành cho thiếu nhi, mặc dầu nhà xuất bản
không đưa nó vào danh sách tác phẩm dự thi. Trong chuyện này Hà Mậu
Nhai nghĩ như tôi, sách được in ra là tốt rồi, mong gì được giải. Việc trao
giải thưởng năm ấy là sự kiện lớn. Đã nhiều năm chuyện xét và trao giải
thưởng văn học bị xếp lại, vì chiến tranh, và vì văn chương là cái sự không
ra gì, một thứ xướng ca vô loài, dưới mắt các nhà lãnh đạo. Chủ tịch Hội
đồng xét giải là nhà văn Tô Hoài. Phùng Quán cũng được giải thưởng, loại
B, với tiểu thuyết ba tập Tuổi Thơ Dữ Dội. Hai tên tội đồ, một Xét Lại
Hiện Đại, một Nhân văn-Giai phẩm, chiếm hai giải thưởng nhất nhì trong
một cuộc thi văn chương, là quá lố. Nhưng đã là năm 1988, hai năm sau
khi Đảng cộng sản tuyên bố "đổi mới" và "cởi trói". Nếu là những năm
trước, việc làm ngang bướng của Hà Mậu Nhai ắt bị trừng trị. Anh vẫn
ngồi yên trên ghế giám đốc cho tới khi qua đời, ba năm sau.
Giải thưởng này đối với tôi là bất ngờ, không kém gì việc nó được in ra.
Khi mọi người cho tôi biết các báo đều đã đăng tin, tôi mới biết. Việc cuốn
sách kể chuyện tầm phào về một làng quê khỉ ho cò gáy mà được giải, lại
giải cao, là điều khó tin.
Tô Hoài hiển nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc trao giải lần này. Uy
tín của nhà văn già đã thắng tính bảo thủ của các cơ quan lãnh đạo tư tưởng
của đảng cộng sản.
Sau đó, đài phát thanh Sài Gòn đọc Miền Thơ Ấu trong chương trình "Đọc
truyện đêm khuya", nhà xuất bản Kim Đồng ở Hà Nội tái bản một lần, rồi
hai lần...
So với bản thảo, cuốn Miền Thơ Ấu trong lần in đầu tiên được rút gọn còn
một nửa theo yêu cầu của nhà xuất bản. Vì không có giấy. Giấy vào những
năm ấy đắt khiếp đảm.
Lần xuất bản sau ở hải ngoại không thiếu giấy nhưng lại thiếu những trang
bản thảo bị bỏ ra nọ. Chúng nằm lại ở Việt Nam, cách tôi quá xa, không
phải xa theo khoảng cách địa lý, mà bởi những khó khăn. Tôi cũng không
tìm cách bổ khuyết. Cuốn sách đã có cuộc sống riêng của nó, diện mạo của
nó. Chưa chắc gì một sự thay đổi sẽ làm cho nó đẹp hơn. Những gì bị bỏ ra
ngoài trong lần xuất bản đầu tiên rồi sẽ được đặt vào một lần xuất bản
khác, hoặc một chỗ khác.
Câu chuyện về một chú bé trong cuộc gặp gỡ với quê hương của chú đã
tìm được độc giả của nó. Thì ra quê hương của một người, nếu nói về nó
bằng tình yêu chân thật, từ trái tim mình, thì cũng mang dáng dấp quê
hương của bất kỳ ai khác, trong sự đồng điệu của tâm hồn.
Tôi bao giờ cũng nhớ về tuổi thơ của mình với tất cả niềm thương yêu dịu
dàng, bởi vì tuổi thơ của ai cũng vậy, nó chứa đựng những tình cảm đẹp
nhất mà cuộc đời có thể cho ta, khi nắng bao giờ cũng lấp lánh và gió bao
giờ cũng ngát hương. Nơi miền đất tuổi thơ, mỗi đám mây bay ngang cũng
gợi ta hình dung ra những xứ xở xa xôi từ đó nó bay đến, mặt trăng rằm
nào cũng bắt ta phải ngắm nhìn để tìm ra bóng dáng cây đa với chú Cuội cổ
tích, thậm chí một con chuồn chuồn ngô cũng có phép màu làm cho ta biết
bơi.
Bạn đã bao giờ cho chuồn chuồn ngô cắn rốn chưa? Nếu bạn đã được một
con chuồn chuồn ngô cắn rốn một lần để được sặc sụa một lần trong dòng
sông quê hương thì bạn là người hạnh phúc đấy.
Tôi đã đọc những dòng viết ấm áp và chân thành, và lạ thay, bao giờ cũng
đầy nuối tiếc, về tuổi thơ trong sáng của mình nơi Lev Tolstoi, Maxim
Gorky hay Paul Vaillant-Couturier.
Chúa Giê-su Ki-ri-xi-tô dạy: "Hãy như con trẻ!"
Tôi chưa được nghe lời nào thông thái hơn.
Nếu tất cả những con người sống trên mặt đất này biết nâng niu gìn giữ
trái tim con trẻ trong mình thì chúng ta đã không phải chứng kiến những gì
xấu xa mà chúng ta phải chứng kiến: chiến tranh, nhà tù, và mọi sự hành
hạ mà con người hàng ngày gây ra cho đồng loại.
Bằng cuốn sách bé nhỏ này, tôi muốn chia sẻ với bạn đọc tình cảm trìu
mến đối với những gì quý báu nhất trong cuộc đời, những gì bạn và tôi
đều có nhưng chóng quên, ở một miền thơ ấu của mỗi chúng ta.
VTH.
I
Tôi tỉnh giấc vì những tiếng động mạnh.
Quờ tay sang bên không thấy mẹ, tôi mắt nhắm mắt mở lồm cồm chui ra
ngoài màn. Khi đã hết chói mắt vì ánh điện sáng choang từ phòng ngoài hắt
vào, tôi nhìn thấy mẹ tôi đứng tựa lưng vào đố cửa nối liền hai phòng. Mặt
mẹ tôi như hóa đá. Hai tay khoanh trước ngực, bà im lặng nhìn ra phòng
ngoài, nơi thấp thoáng nhiều người lạ mặt. Tôi bước xuống đất, mãi mới
xỏ được chân vào guốc. Loạng choạng vì ngái ngủ, tôi nem nép đi tới bên
mẹ. Tưởng tôi định bước ra phòng ngoài, mẹ tôi giữ tôi lại, hai tay đặt nặng
lên vai tôi
Bố tôi ngồi trên một chiếc ghế tựa được lôi khỏi bàn ăn, ở sát tường. Vẻ
bất cần, ông bình thản hút thuốc, không buồn nhìn đến đám người lạ mặt
nhâng nháo đi lại và lục tung mọi vật trong phòng. Tiếng động làm tôi thức
giấc là tiếng sách bị quăng xuống sàn. Ngôi nhà gia đình chúng tôi thuê
hồi đó có hai phòng thêm một ngăn nhỏ chứa đồ tạp nham và bếp. Phòng
ngoài được dùng làm phòng ăn, cũng là phòng làm việc của bố tôi. Một tủ
sách lớn chiếm gần trọn bức tường. Bên cạnh tủ sách là cái giường nhỏ,
khi nào làm việc mệt, bố tôi có thể ngả lưng tại chỗ. ông có thói quen đọc
sách khuya. Chắc bố tôi bị bỏ dở công việc vì những người khách này.
Trên bàn, một cuốn sách dày còn để mở.
Trong đám mật thám tới khám nhà tôi đêm đó có một người Pháp. Hắn
ngồi ở bàn ăn, đối diện với bố tôi ở một khoảng cách xa, mặt dửng dưng
như thể hắn không có ý muốn tham dự vào công việc của đám thuộc hạ.
Nhìn thấy tôi, bố tôi mỉm cười. Cái nhìn trìu mến, vỗ về. Tôi hiểu, bố
muốn tôi đừng sợ. Không có gì đâu, cái nhìn nói: chuyện thường ấy mà,
con đã biết thừa là chuyện gì rồi, phải thế không nào?
Tôi không sợ. Bọn mật thám tới khám nhà tôi không phải đây là lần đầu.
Có lần chúng khám chán rồi bỏ đi, có lần chúng bắt bố tôi, mang đi. Ít lâu
sau, chúng thả. Mật thám là loại người kỳ cục. Chúng chẳng giống ai,
nhưng nếu để ý một chút là có thể nhận ra chúng, ngay giữa đám đông. Nét
đặc biệt của chúng là không bao giờ đường hoàng, lúc nào cũng thậm thụt,
cũng lấm lét, dường như chúng cố giấu đi cái vẻ ăn không ngồi rồi nghề
nghiệp in dấu trên mặt chúng, trên hình hài chúng, cái dáng vẻ phân biệt
chúng với những người bình thường, những người thế nào cũng phải bận
bịu với một công việc lương thiện hoặc không lương thiện nào đó. Vào
thời kỳ bấy giờ mật thám thường khoác áo các thầy ký nghèo sở tư, các
tay thầu khoán long đong, các gia sư trẻ rạc người lê gót đi kiếm việc. Tùy
theo vai phải đóng, những tên mật thám học mặc áo chùng thâm, quần
trắng, đi ô, hoặc vận âu phục tàu, giày tây tàng, mũ dạ. Cái chung của
chúng là cặp kính râm đen kịt. Tại sao chúng cứ phải kè kè cái cặp kính tố
cáo chúng ấy, tôi không hiểu.
Dạo ấy, trong nhà tôi thường xuyên có bè bạn của bố mẹ tôi đến ở. Có
người chỉ đến vài ngày, có người ở lại hàng tháng, trở thành người trong
nhà. Nhà chật, họ dọn dẹp bàn ghế lại, nằm la liệt trên sàn gạch hoa. Những
con người hiếu động, vui vẻ này lúc nào cũng làm ầm ĩ ngôi nhà nhỏ bé
của chúng tôi bằng những bữa ăn đông đúc, những cuộc tranh luận ầm ĩ, rất
nhiều cãi vã, nhưng không có giận nhau. Đột nhiên, họ biến mất, hầu như
tất cả. Ngôi nhà vắng hẳn. Mẹ tôi có vẻ lo âu. Đêm, nhiều lần tôi tỉnh giấc
thấy mẹ tôi vẫn chưa ngủ, mắt chong chong.
Tuần trước, bố tôi sai tôi vẽ một con cò trên bức tường quét vôi vàng ở
đầu phố, chỗ ngã tư. Tôi nắn nót vẽ bằng gạch non, rất rõ. Con cò khá đẹp,
nhưng đáng tiếc, nó là con cò mù, bởi vì nó không có mắt. Tôi chỉ hiểu tại
sao bố tôi lại bảo tôi vẽ con cò mà lại dặn kỹ không được vẽ nó có mắt khi
chiều qua bố tôi sai tôi vẽ nốt cho nó con mắt còn thiếu. Thì ra con mắt báo
cho những người đến nhà tôi biết có nguy hiểm, họ không được tới nữa,
cần phải rẽ ngay sang đường khác. Mối nguy hiểm đó là số lượng mật
thám quanh quẩn bên nhà chúng tôi tăng lên đột ngột. Rất có thể chúng sẽ
úp một mẻ tại đây. Nhưng chúng tới muộn và đã úp trượt.
Tên mật thám Pháp ngồi thẳng đuỗn, hai tay thả dài trên bàn, mặt bất động,
bên trong hai tròng mắt là hai hòn bi ve lạnh lẽo. Điếu thuốc lá kẹp nơi bàn
tay phải bốc khói, tàn đã dài nhưng hắn không vẩy đi, cũng không đưa lên
hút. Hình như sau cái vẻ thờ ơ bề ngoài ấy, thính giác của hắn đang làm
việc căng thẳng. Hắn chăm chú theo dõi tiếng dội lại của viên gạch hoa mỗi
lần tên mật thám thấp, bé, mắt hấp háy, dùng ba-toong gõ vào đấy.
Những tên khác lặng lẽ tiến hành việc lục soát. Sách báo trong tủ bị rỡ tung
tóe, quăng bừa xuống sàn. Chúng cẩn thận gõ vào từng vách tủ, hi vọng tìm
thấy một ngăn bí mật. Một số lục soát quần áo của bố tôi. Chúng lộn tung
các túi sờ nắn từng nẹp áo, nẹp quần. Mẹ tôi bĩu môi trong nụ cười khinh
bỉ. Cái lũ bẩn thỉu này ra điều sạch sẽ, chúng chỉ đụng tới quần áo bằng ba
ngón tay - ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa, hai ngón còn lại vểnh ra, nhất là
ngón út cong lên với vẻ ghê tởm, dường như chúng sợ những quần áo mà
chúng buộc phải đụng đến sẽ dây bẩn ra tay chúng.
Sau phòng ngoài, bọn mật thám lần đến phòng trong. Tôi đọc thấy một
thoáng lo ngại trong mắt mẹ tôi. Buổi chiều, có một nhà sư tới, ông đưa
cho bố tôi một bức thư nhỏ xíu cuộn tròn như que tăm cài trong tấm khăn
nâu quấn trên đầu. Bố tôi xem xong, cuộn bức thư lại như cũ và nhét vào
kẽ nứt giữa đố cửa và tường. Thường bố tôi đốt thư đi sau khi xem xong,
nhưng lần này ông để lại, chắc còn phải chuyển tiếp đi nơi khác. Tôi thấy
tim mình như ngừng đập khi một tên đeo kính trắng lấy tay gõ gõ vào đố
cửa. Nhưng ngón tay hắn đi lướt qua chỗ đó, chỗ giấu bức thư, rồi gõ tiếp
trên những chỗ khác. Tôi thở phào, nhẹ nhõm. Bố tôi liếc mắt nhìn tôi,
bình thản hút tiếp một hơi thuốc.
Bọn mật thám làm việc trong im lặng. Chúng chỉ trao đổi với nhau đôi câu,
khi thật cần thiết.
Sau hai giờ lục soát từ trên nhà xuống bếp, chúng chẳng tìm được gì, ngoài
mấy cuốn sách tiếng Pháp mà chúng thấy cần thu, coi như tang vật. Nhìn
những cuốn sách của mình bị buộc lại, đặt lên bàn ăn, trước mặt tên mật
thám Pháp, bố tôi nhún vai, nói bằng tiếng Pháp:
- Hình như các ông lầm, đó là mấy cuốn sách tôi mua ở hiệu, đều là sách
do các ông cho phép bán.
- Rất có thể là như vậy. - tên mật thám Pháp trả lời, hắn cũng chẳng buồn
nhìn đến những cuốn sách ấy - Những cuốn sách có bán ở hiệu trong thời
kỳ Mặt Trận Bình dân đã trở thành không còn hợp pháp. Vào thời kỳ Mặt
trận đó đã hết uy thế, ông hiểu chứ?
- Không, tôi không hiểu. Nói chung, nền văn minh Pháp ở thuộc địa trước
nay vẫn là một nền văn minh khó hiểu.
Tên Pháp, đứng lên, hờ hững đỡ cái ba-toong từ hai tay tên thấp bé có cặp
mắt hấp háy. Cuộc đối thoại ngắn ngủi đó tôi ghi lại theo lời mẹ, nhiều
năm sau. Bà thường kể lại cho chúng tôi nghe những kỷ niệm vui buồn
trong đời bà. Một tên mật thám trẻ nhất bọn, lực lưỡng, nước da đen sạm
tiến về phía bố tôi, đôi mắt nhiều lòng trắng hắt ra những tia lạnh lẽo.
- Xin lỗi!
Tên Pháp nói, nhìn vào tay bố tôi. Bố tôi nhếch mép cười, đưa hai tay ra.
Một tiếng cách khô khan, cái còng đã ngậm chặt hai cổ tay bố tôi.
Tên mật thám Pháp bước ra cửa, những tên còn lại lục tục theo sau.
Trong bóng đêm phố vắng, tôi nhìn thấy bố tôi bị du mạnh vào trong chiếc
xe hòm màu đen đã mở máy chờ sẵn. Tên mật thám Pháp bước lên theo.
Lũ thuộc hạ leo lên một xe khác. Tiếng động cơ nổ vang trong đêm. ánh
đèn đỏ ở sau xe xa dần rồi tắt ngấm.
Chị Tường, người trông chúng tôi, òa khóc. Mẹ tôi ôm lấy chị dìu vào
trong nhà.
1
- Quân Luy-xi-phe! Chúng nó làm tanh bành trong bếp, có vại dưa mới
muối cũng làm đổ cả ra kia, mợ xuống mà xem!
Đáng lẽ phải nguyền rủa quân Luy-xi-phe đã bắt bố tôi mang đi, chị lại
không nói ra điều đó, mà oán trách chúng làm lộn tùng phèo cái bếp mà chị
mất bao công phu giữ gìn cho nó luôn gọn gàng ngăn nắp.
Tội nghiệp, chị là người bạn thời thơ ấu của bố tôi, và chị thương bố tôi
biết mấy. Chúng tôi gọi chị bằng chị theo thói đời bấy giờ, vì chị là người
nhà nhưng ở vị trí người làm. Gần bằng tuổi bố tôi, mồ côi cả cha lẫn mẹ
từ thuở còn thơ, chị được ông bà nội tôi đón về nuôi, chị lớn lên trong nhà
ông bà tôi như một đứa con, nhưng không hiểu sao vẫn không được coi như
con nuôi. Khi tôi ra đời, bố tôi đưa chị lên Hà Nội, từ đó chị trông nom
chúng tôi chẳng khác gì người mẹ thứ hai.
Mẹ tôi không khóc. Bà ngồi thần ra một lúc, như thể bà không tin việc vừa
xảy ra là có thật, và giờ đây bà cần phải khẳng định với chính mình rằng
việc đó đã xảy ra, rằng bố tôi đã bị bắt thật, rằng ông sẽ không được ngủ
đêm nay ở nhà mà phải chịu thức trắng với những cực hình mà ông đã từng
nếm trải tại Sở Liêm Phóng. Rồi bà tần ngần nhặt từng cuốn sách lên, vuốt
lại cho khỏi quăn mép và xếp vào chỗ cũ. Chị Tường ngồi bên cạnh, vừa
khóc thút thít vừa giúp mẹ tôi thu dọn lại phòng ngoài. Hai người thức cho
tới khi trời sáng.
Điều đáng ngạc nhiên là không hiểu vì lẽ gì bọn mật thám chỉ xem qua loa
phòng ngủ chứ không khám kỹ như trong bếp và phòng khách. Vì thế các
em tôi vẫn ngủ say. Chúng chẳng biết chút gì về việc xảy ra trong đêm.
Sáng dậy, chúng vẫn nô đùa, vẫn vòi mẹ. Bố tôi thường vắng nhà, chúng đã
quen, thậm chí cũng chẳng buồn hỏi bố đâu. Tôi khác, tôi có một trí nhớ
đáng nguyền rủa. Những gì tôi chứng kiến tôi nhớ rất lâu, đến từng chi
tiết. Có một trí nhớ như vậy thật chẳng hay ho gì.
Nó là một cái vạ.
II
Tin tức từ trong tù báo ra cho biết: bố tôi sẽ bị đi an trí.
Đó là số phận chung của những người bị tình nghi có dính líu tới những
hoạt động chống lại Nhà nước Bảo hộ, nhưng là những người mà Nhà
nước Bảo hộ không có đủ chứng cứ để có thể đem ra xử và kết án. Cách
làm này thực dân Pháp học được của phát xít Đức. Trại an trí hay là "căng"
(camp), theo cách gọi thời ấy, chẳng qua chỉ là một cái tên khác của trại tập
trung (camp de concentration). Có nhiều "căng" cho tù chính trị, nhưng bố
tôi sẽ bị đi "căng" nào thì chưa biết.
Tạm thời, ông bị giam tại Hỏa Lò.
Có nhiều người Hà Nội chính gốc không biết lai lịch của Hỏa Lò. Phần
nhiều chỉ biết nó là nhà tù, nó ở đâu, và chỉ thế thôi. Tôi biết Hỏa Lò quá
sớm. Nó để lại cho tôi một ấn tượng nặng nề.
Tên thật của Hỏa Lò là Lao Trung ương (Mai son Centrale). Cái công trình
bằng đá hộc có bốn cạnh không đều này nằm lù lù giữa thành phố, bốn góc
có tháp canh lính gác ngày đêm. Nằm sát bên nó là Tha Đại Hình, cách một
con đường nhỏ. Tên Hỏa Lò là tên phố, đâu xưa kia ở phố này có nhiều
cửa hàng bán Hỏa Lò đất. Nhưng cái tên phố được dành cho nhà tù lại gợi
nghĩ đến một cái gì đó thiêu đốt, hành hạ bằng lửa, bằng sức nóng của thứ
bếp rừng rực than hồng. Những người đã từng ở bên trong Hỏa Lò nói
rằng bốn bức tường đá giăng quanh bị mặt trời hun nóng ban ngày, ban
đêm tiếp tục nhả lửa vào các xà lim cá nhân tối tăm và ngột ngạt. Về mùa
đông, Hỏa Lò tắt ngấm khí đá lạnh thấu xương. Nghe nói Hỏa Lò được
xây dựng cùng thời với Nhà Bưu Điện, Đồn Thủy và các trại lính trong
khu thành cổ. Nghĩa là khi có tín hiệu báo động, lính thủy và lính bộ của
thực dân Pháp sẽ từ các trại lính xông ra đàn áp các cuộc nổi dậy, bắt được
ai thì bỏ vào Hỏa Lò.
Thật là tiện.
Để được thăm bố tôi, mẹ tôi và tôi phải dậy sớm chầu chực ở chân tường
bên phải cửa vào, sát đường Hàng Bông Thợ Nhuộm. Đến giờ vào thăm tù
sẽ có một thầy ký ra gọi tên. Thầy ký này có vẻ mặt và dáng dấp trịnh trọng
không lẫn vào đâu được, đến nay tôi còn nhớ rõ. Gầy và xanh, vận com-lê
ẳ
trắng, nếp là thẳng tắp, đeo kính trắng, đi đứng khụng khiệng, ông ta cao
giọng gọi tên từng người được vào thăm tù theo cách riêng của ông ta:
- Le Đin Khoi!
- Tran Van Bik!
- Nguyen Thi Mai!
Cái lối gọi lơ lớ theo tiếng Pháp, không có dấu, của thầy ký làm cho nhiều
người lầm lẫn. Đám đông lộn xộn hỏi nhau, quát gọi í ới, rồi bỗng ai đó
chợt nhận ra người ta gọi đích tên mình chứ không phải người khác, vội tất
tưởi chạy về phía cổng.
Để vào tới chỗ thăm tù, chúng tôi phải qua ba lần cửa. Không kể lần cửa
ngoài cùng, bên dưới vòng cung đắp nổi hai chữ MAISON CENTRALE,
còn có một cửa sắt thưa, rồi một cửa sắt nữa, nhỏ hơn, dẫn vào một hành
lang quét vôi xám. Rẽ sang trái, chúng tôi rơi vào một căn phòng tối mờ,
ban ngày cũng phải thắp điện. Những người đi thăm tù ngồi đợi ngao ngán
trên những ghế dài.
Chỗ gặp là một tấm lưới thép chạy dài ngăn căn phòng thành một phòng
nữa nhỏ hơn. Bên tấm lưới ấy, những người nhà pha (người tù) nói chuyện
chõ ra với người nhà. Những mẩu đối thoại ngắn ngủi, tiếng gắt gỏng của
những viên giám thị, tiếng đàn bà khóc nức nở, tất cả làm thành một tiếng
ồn không dứt. Nền xi măng giội lên trần cao một lần nữa tiếng chân người
sàn sạt, tiếng thì thào tiếng ho bị bịt lại của những người đang nóng ruột
chờ tới lượt mình. Tất cả những cái đó đè nặng lên tôi. Tôi chỉ muốn mau
mau thoát ra khỏi căn phòng này để tới với khoảng không rực nắng và
thoáng đãng ngoài kia. Thậm chí tôi quên cả nỗi nhớ thèm được gặp bố,
chỉ mong sao cho cuộc đi thăm này sớm kết thúc. Bầu không khí ngột ngạt
làm cho đầu tôi váng vất.
Sau nửa giờ chờ đợi, tôi nghe thấy một giọng hách dịch và lạnh tanh kêu
tên bố tôi.
Mẹ tôi đứng bật dậy, lật đật chạy tới tấm lưới thép, tôi chạy sau. Từ trong
cửa ngách, bố tôi xuất hiện, mặt hốc hác, râu tua tủa nhiều ngày không
cạo. Nhưng bố tôi cười. Trong những phút hiểm nghèo, những lúc khó
khăn bao giờ bố tôi cũng cười, nụ cười làm cho người nhìn thấy yên lòng.
Tôi đứng bên mẹ, ngẩng đầu lên nhìn bố. Nói chuyện với mẹ, bố thỉnh
thoảng lại nháy mắt với tôi, có ý nói tôi đừng buồn, bố vẫn biết có tôi đứng
đấy, nhưng vì có chuyện quan trọng phải nói với mẹ đã, cho nên bố chưa
có thời giờ nói với tôi. Tôi hiểu, bố mẹ tôi dành những phút gặp gỡ hiếm
hoi này để thông tin cho nhau những điều mà bên ngoài hoặc bên trong nhà
tù cần phải biết, những chuyện khác chỉ là bề ngoài, để che giấu câu
chuyện chính.
Viên giám thị già, tay chắp sau lưng, đầu hơi cúi, đi đi lại lại dọc theo tấm
lưới thép. Bên trong, sát chỗ bố tôi đứng, một viên giám thị khác, mập lùn,
vẻ mặt ngán ngẩm, ngồi trên ghế tựa, luôn đổi chân vắt lên nhau và ngáp
vặt. Chung quanh, những người đến lượt gặp người nhà nói chuyện nhao
nhao cùng một lúc. Phần lớn tù được ra gặp người nhà là thường phạm. Có
thể phân biệt được hai loại tù: chính trị phạm có dáng trí thức, phong thái
đĩnh đạc. Thường phạm không thế - trong họ dấu ấn nguồn gốc bình dân
rất rõ. Ở góc xa có một chính trị phạm đang nói chuyện với mẹ. Tôi nhìn
thấy bà cụ tóc bạc phơ này từ khi đứng đợi ở bên ngoài, rất sớm.
Rồi cũng đến lúc mẹ tôi nhấc tôi lên cho tôi nói chuyện với bố. Tôi nhìn
thấy bố rất gần. Mặt hai bố con gần chạm nhau, chỉ cách có tấm lưới.
Bố tôi gầy quá, bây giờ tôi càng thấy rõ. Lưỡng quyền nhô cao, mắt trũng
sâu, đôi môi khô, nứt nẻ.
Chắc chúng nó đã tra điện bố tôi. Và ông đã rứt đứt cúc áo cắn chặt giữa
hai hàm răng để khỏi cắn vào lưỡi. Những câu chuyện về mật thám tra điện
thế nào tôi đã được nghe.
Chỉ cần nghiến chặt răng chịu đựng cho tới khi ngất đi là xong, những
người từng bị tra điện nói thế.
- Mẹ sẽ vất vả lắm đấy, con hiểu không? - bố tôi nói, giọng xúc động.
- Con hiểu ạ.
- Con lên bảy rồi, con đã lớn.
Bố định nói tiếp điều gì, rồi lại ngập ngừng.
- Con sẽ chăm học. - tôi vội nói cho bố yên lòng.
- Ừ, con phải chăm học. Nếu con học dốt, bố sẽ buồn.
- Con sẽ không chành chọe với các em.
- Phải chiều các em, bởi vì chúng nó bé hơn con.
- Vâng.
Viên giám thị mập lùn đứng lên, ngáp một cái dài. Rút trong túi áo cái đồng
hồ quả quít mạ bạc bóng loáng, ông ta bật nắp, nheo mắt lại để đọc giờ, rồi
đậy nắp lại đánh tách:
- Hết giờ!
Cánh cửa ghi-sê được mở ra cho mẹ tôi chuyển quà vào. Mẹ tôi đột ngột
ôm chặt tôi, đút vội tôi qua ghi-sê. Tôi chỉ giãy mạnh chân một cái là đã
nằm gọn trong vòng tay bố. Ông ôm ghì lấy tôi, hôn khắp mặt.
- Ê, bỏ ra, không được phép!
Bố tôi hôn tôi lần cuối, và đút tôi trở lại. Viên giám thị già giằng bố tôi ra
xa ghi-sê. Đôi lông mày rậm như hai con sâu róm của ông ta cau lại.
- Con về ở với cô Gái phải ngoan, con nhé!
Bố tôi dặn với. Đó là điều bố ngần ngừ mãi mới nói được với tôi.
Chắc chuyện này bố đã bàn với mẹ, nhưng tôi không nghe thấy. Mà cũng
có thể ông chỉ nói quyết định của mình, đến lúc ấy mới nói ra. Không phải
quyết định nào ông cũng bàn với vợ, tính ông thế.
Quyết định của bố làm tôi choáng váng. Mẹ tôi ôm chặt tôi, mắt đỏ hoe.
Bố tôi đi về phía cửa nách. Ông ngoảnh lại mất lần, kiễng chân lên để nhìn
chúng tôi cho rõ hơn. Ở cửa, ông dừng lại, đưa tay lên vẫy, gật đầu và mỉm
cười.
Một giọng hách dịch vang lên gọi tên một người nào đó.
- Con về ở với cô Gái phải ngoan, con nhé?
Trong đầu tôi văng vẳng câu nói của bố.
Ngoài trời, nắng lóa mắt. Tôi bước theo mẹ, nhưng không còn thấy sung
sướng được bước ra khỏi căn phòng tối mờ và ngột ngạt của Hỏa Lò như ít
phút trước tôi còn ham muốn.
III
Cô Gái là chị cả của bố tôi.
Ở trong họ tôi có lối xưng hô như vậy, chị của bố được gọi bằng cô.
Đó là một người đàn bà dường như chưa bao giờ trẻ; đối với tôi, bà vĩnh
viễn già kể từ khi tôi gặp. Vóc người cao lớn, xương xẩu, dáng đi thẳng
đuột, bà có bộ mặt quàu quạu, cái nhìn chê bai và soi mói, giọng nói lạnh
lùng. Bà ở nhà quê, thỉnh thoảng mới lên thăm các em trai ở Hà Nội. Một
hai năm một lần, bà xuất hiện ở nhà tôi với thúng quà đội trên đầu, bao giờ
cũng vẫn những thứ ấy: bột sắn dây, trứng cáy, rượu bách nhật làm bằng
nếp cẩm, gạo tám thơm, bánh quế, bánh đa khoai... Bà không mua một thứ
gì trong những món quà cố hữu ấy, tất cả do bà làm lấy bằng sản vật thu
hoạch từ ruộng nhà vườn nhà, là những thứ mà các em của bà đã quen
hương quen vị từ thuở còn thơ. Những ông em đứng tuổi nem nép trước bà
chị xét nét, các bà vợ ra sức chiều chuộng bà chị chồng lạnh lùng không
bao giờ bỏ lỡ dịp chứng tỏ cái quyền uy gia trưởng mà bà mang giữ.
Lũ cháu chúng tôi thích quà của bà, nhưng không yêu bà. Mà bà cũng
chẳng quan tâm đến chuyện chúng tôi có yêu bà hay không. Đối với bà,
con của các em là cháu bà, thế thôi. Một khái niệm không hàm cảm xúc. Ở
quê lên bà vẫy chúng tôi lại, gọi to tên từng đứa như tự nhắc mình cho khỏi
quên, lẩm bẩm học những ...
 
Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân





