TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

Tài nguyên dạy học

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

VĂN HỌC - CẢM NHẬN TÁC PHẨM

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    TDMNPB_tunhien.jpg Ban_do_cac_nuoc_Dong_Nam_A.jpg HB_MDDS.jpg HB_NHOMNUOC.jpg BANDOKINHTE.jpg Gioi_han_sinh_thai_ca_ro_phi.png Gioi_han_sinh_thai_cua_tam.png Gioi_han_sinh_thai_xuong_rong.png

    KIẾN THỨC PHỔ THÔNG

    GỐC KIẾN THỨC ÔN LUYỆN TN THPT QUỐC GIA

    VIDEO BÀI GIẢNG MINH HỌA

    KIẾN THỨC LỊCH SỬ - TỰ HÀO VIỆT NAM

    HÀNH KHÚC TRƯỜNG TRẦN QUÝ CÁP HỘI AN

    Miền thơ ấu

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Phương
    Ngày gửi: 22h:50' 20-11-2024
    Dung lượng: 946.1 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    LỜI NÓI ĐẦU
    Khi đặt bút viết những dòng đầu tiên của cuốn sách mà bạn đang cầm trong
    tay, tôi không dám tin rằng sẽ có ngày nó được thấy ánh sáng mặt trời.
    Nó ra đời như một may mắn không ngờ, như nhờ một phép màu.
    Đối với tôi, nó có ý nghĩa đặc biệt. Một thời, nó đã là người bạn tâm tình,
    là cái nạng cho tôi vịn vào mà đi trên con đường vô định.
    Mùa đông năm 1967 là một mùa đông giá buốt, ít nhất là cho tôi, trong cái
    xà lim không có sưởi và không có quần áo ấm. Trong mùa đông ấy, không
    hiểu vì sao, tôi cảm thấy nhớ quê hương nhiều hơn bất cứ lúc nào. Cái đầu
    tiên gợi nhớ đến quê hương là mùi khói cay nồng từ những đống lá mà
    phu quét đường đốt lên để sưởi, ở bên kia bức tường đá của nhà tù. Ở quê
    tôi người ta thường đốt những đống rấm như thế để khói ngăn sương
    muối sà xuống những vườn rau. Mùi khói thoang thoảng lọt vào xà lim gây
    nên một nỗi nhớ cồn cào, da diết.
    Gối đầu trên đôi tay, tôi nằm dài trên phản xi măng lạnh ngắt mà thả hồn
    về quá khứ, tự hứa thể nào rồi mình cũng phải viết một cuốn sách về cái
    làng bùn lầy nước đọng quê hương. Cái làng nhỏ nhoi và nghèo khổ ấy gắn
    liền với thời thơ ấu của tôi, cái thời không mấy hạnh phúc nếu đứng ngoài
    nhìn vào, nhưng tuyệt đẹp đối với tôi, mà cũng có thể đối với bất cứ ai
    từng có một cái quê để mà nhớ.
    Lúc ấy tôi không nghĩ rằng cuốn sách tôi định viết sẽ được thực hiện
    không phải ở nơi nào khác, mà trong nhà tù. Ở Hỏa Lò tù nhân bị cấm đủ
    thứ, nhất là viết, hoặc đọc. Một mẩu giấy báo bị quản giáo phát hiện trong
    xà lim cũng là một cái tội, người tù giấu nó sẽ bị kỷ luật cùm chân, bị cắt
    "tiếp tế". Trong năm tù đầu tiên tôi chưa có đủ kinh nghiệm để biết rằng
    khi cần thiết người tù có thể làm được những việc anh ta không bao giờ
    ngờ tới.
    Ở trại quân pháp Bất Bạt (Sơn Tây) sự sống trong xà lim còn tệ hơn ở Hỏa
    Lò. Tôi hoàn toàn bị cắt đứt với thế giới bên ngoài. Nếu ở Hỏa Lò người
    tù xà lim còn có thể đoán biết được một sự kiện nào đó xảy ra bên kia
    những bức tường và hàng rào dây kẽm gai nhờ nghe ngóng được động thái
    của bạn đồng cảnh ở các xà lim cùng khu, thì ở Bất Bạt cái đó hoàn toàn

    không có. Những người bị giam ở đây, bên cạnh xà lim tôi, thường đã qua
    thời kỳ hỏi cung (thẩm vấn). Họ yên tâm nằm chờ, tháng này qua tháng
    khác, mà cũng có thể năm này qua năm khác, nhưng họ có cái để mà chờ:
    đó là ngày chắc chắn sẽ được ra tòa lĩnh án. Án có thể ngắn, có thể dài,
    nhưng họ sẽ được trở về khi mãn hạn. Những người tù chính trị, lại là thứ
    có tên gọi mỹ miều là “xử lý nội bộ”, thì không thể có xử, cứ việc nằm đấy,
    không chờ.
    May cho tôi, ở trại này trong một lần "tiếp tế" vợ tôi lén lút giúi cho tôi
    một cây bút bi Trung Quốc hai màu. Tôi có một đam mê khó hiểu đối với
    những cây bút. Vợ tôi biết người ta chẳng đời nào cho tù nhận thứ đồ quốc
    cấm ấy nhưng đã mang nó cho tôi, tôi sẽ có cách giấu. Tôi vờ xin đi vệ
    sinh, ở đó tôi kín đáo phá nát cây bút quý giá ấy, chôn những mảnh vỡ của
    nó xuống đất, rồi luồn hai cái ruột bút bi vào nẹp áo bông để mang vào xà
    lim.
    Cuốn sách bắt đầu từ ấy, mùa thu năm 1969.
    Tôi mải mê viết những trang đầu tiên trên vỏ bao thuốc lá, trên giấy kẹo,
    trên những riềm báo cũ mà gia đình bọc đồ "tiếp tế" (đến lúc đó nhà cầm
    quyền đã rộng lượng cho phép chúng tôi được giữ lại một số tờ giấy có in
    chữ, nhưng phải là thứ cũ, hết sạch thời gian tính). Viết phải rất cẩn thận,
    không được lãng phí những mẩu giấy hiếm hoi, lại phải canh chừng lính
    gác năm phút mươi phút một lần lượn lờ qua phòng giam để kiểm tra.
    Những mẩu "bản thảo" lắt nhắt không thể xếp thành trang, phải đánh số rõ
    ràng để không lẫn lộn, được gom lại, được cất giấu bằng mọi cách trong
    cái xà lim nhỏ hẹp. Sau đó là những ngày chờ đợi đến lần được gặp gia
    đình kế tiếp thì tuồn cho mẹ tôi, vợ tôi mang ra. Khi viết được nhiều, bản
    thảo tích lại khá dày cũng gây ra mối lo. Mà những cuộc gặp lại khôngcó
    kỳ có hạn, gia đình muốn gặp thì làm đơn, khi nào người ta rộng lượng cho
    gặp thì được gặp. Được cái từ năm tù thứ ba trở đi đám quản giáo coi nhà
    tiếp tế không còn khám xét kỹ mỗi lần tôi được gặp gia đình nữa. Vả lại,
    chẳng cần khám làm gì - chúng tôi đâu có biết ngày nào tháng nào được
    gặp vợ con đâu mà chuẩn bị. Tôi bao giờ cũng sẵn sàng, cho nên lần nào
    gặp gia đình cũng chuyển ra ngoài được một ít bản thảo.
    Về sau này, trong xà lim trại Tân Lập (Phú Thọ), việc viết không còn khó
    như trước, mặc dầu vẫn phải canh chừng để không bị phát giác. Sau nhiều

    lần yêu cầu kiên trì, chúng tôi thậm chí còn được người ta chiếu cố cho
    phép gia đình mang cho giấy bút và vài cuốn tiểu thuyết ngoại quốc để
    đọc.
    Cuốn sách hình thành dần dần, từng ít một.
    Một lần các nhân viên công an nghi ngờ tôi chuyển gì ra, họ chặn mẹ tôi và
    vợ tôi lại để khám, nhưng hai người đã mang được những mẩu giấy của tôi
    ra ngoài trót lọt.
    Khi những bản thảo đã gom được kha khá, các em tôi - Vũ Chí Dũng, Vũ
    Thu Hương và Vũ Thu Hòa - hì hục chép lại. Năm 1976, sau chín năm tù,
    tôi trở về thì đã có một bản thảo hoàn chỉnh. Các em tôi còn đánh máy ra
    làm mấy bản sạch sẽ để những người thân đọc.
    Mẹ tôi đọc xong, bảo:
    - Mẹ thích. Nhưng sách không in được đâu. Một là, tên của con bị cấm. Hai
    là, chuyện một nhà, một làng, liệu mấy ai quan tâm?
    Bố tôi nhận xét:
    - Dù sao thì nó cũng ghi lại dấu vết một thời kỳ của nông thôn Việt Nam
    vùng Thiên Chúa giáo. Cứ để đấy, nó sẽ có ích sau này. Cho những nhà
    nghiên cứu chẳng hạn.
    Tôi không có ý định viết cho những nhà nghiên cứu. Họ chẳng cần đến tôi.
    Tôi cũng chẳng có ý định viết để in. Tôi viết vì đó là công việc duy nhất
    mà tôi có thể làm trong sự ăn không ngồi rồi bất đắc dĩ. Tôi viết vì tôi
    thèm được làm công việc mà tôi yêu thích. Tôi viết, ít nhất thì cũng để cho
    các con tôi, chúng không biết thời thơ ấu của tôi đã trôi qua thế nào. Mà
    chắc gì sẽ có ngày tôi kể được cho các con tôi nghe?
    Hồi ở trại Bất Bạt tôi không nghĩ tới ngày về. Không ít người đã nằm lại
    trong các nghĩa trang nhà tù. Những nghĩa trang ấy, thường ở sườn đồi,
    nếu có đồi, hoặc ở một bãi hoang giữa rừng. Trong cái sự tù của chúng tôi
    nghĩ tới ngày về là ý nghĩ ngu ngốc.
    Ý nghĩ viết cuốn sách để lại cho các con đã làm cho cuốn Miền Thơ Ấu có
    một sắc thái riêng. Nó là hồi ký, nhưng trong lần in đầu tiên nhà xuất bản
    đặt nó vào loại tiểu thuyết. Trên bìa sách cũng đề rõ Miền Thơ Ấu - tiểu
    thuyết. Hồi ấy ở Việt Nam chỉ có loại hồi ký là hồi ký cách mạng, do các

    lãnh tụ kể cho các nhà văn ghi. Người thường không ai viết hồi ký, không
    được viết hồi ký. Để nó vào dạng tiểu thuyết thì dễ in hơn.
    Còn có một lẽ nữa, là cuốn sách có hình thức giống tiểu thuyết trong cách
    viết, trong cách miêu tả nhân vật, dựng lại đối thoại. Tuy nhiên, tên người,
    tên đất trong cuốn này được giữ nguyên, không thay đổi. Người trong họ
    ngoài làng sẽ nhận ngay ra người quen khi đọc. Mà người làng tôi thì
    không quan tâm đến chuyện cuốn sách mà họ đọc thuộc thể loại gì.
    Tôi cho rằng có thể chép cuộc đời vào sách và tạo ra cho nó một dáng vẻ
    nghệ thuật, nếu ta nhìn đời theo cách nghệ thuật.
    Cuốn sách nằm lâu trong đống giấy má vàng úa của một thời chữ nghĩa.
    Tôi cũng chẳng có thời giờ để ý tới nó vì còn bận đánh vật với những thí
    nghiệm, chạy đi chạy lại các cơ quan nhà nước kiếm hợp đồng làm hàng
    gia công, là việc có ích cho sự kiếm sống. Từ khi ra tù tôi làm đủ mọi thứ
    nghề tạp nham, trong đó việc sản xuất hàng hoá liên quan tới hóa chất cho
    các tổ hợp thủ công nghiệp đem lại nhiều tiền hơn cả.
    Mãi tới năm 1987, anh bạn Lê Phát, biên tập viên đài Tiếng nói Việt Nam,
    một người tò mò thích văn chương, đã khui nó ra trong đống giấy má bừa
    bộn của tôi. Lê Phát đọc một lèo, anh thích nó, bèn đưa cho nhà xuất bản
    Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, nơi nhà văn Hà Mậu Nhai làm giám
    đốc. Hà Mậu Nhai cũng đọc một lèo, rồi nhắn tôi đến chơi. Anh tỏ ý muốn
    in cuốn sách. Tôi ngăn anh:
    - Anh không biết có một chỉ thị cấm in tôi sao?
    - Tôi biết.
    - Vậy mà anh vẫn quyết định in?
    Hà Mậu Nhai nói:
    - Chừng nào chưa có trước mặt tôi một văn bản pháp luật trong đó ghi rõ
    quyết định của tòa án cấm không được in Vũ Thư Hiên thì tôi vẫn in. Tôi
    không ngán những lệnh miệng và những chỉ thị nội bộ. Tôi in, và còn in tên
    Vũ Thư Hiên to hơn bình thường nữa kia.
    Tôi ngần ngừ. Tôi không muốn vì cuốn sách của mình mà bạn mình mang
    vạ. Hà Mậu Nhai nói chỉ cần tôi đồng ý cho in. Tôi miễn cưỡng đồng ý.

    Cuốn sách được in ra. Tên tác giả được in to hơn bình thường, đúng như
    Hà Mậu Nhai nói. Hà Mậu Nhai là một nhà văn nhưng không có chân trong
    Hội Nhà Văn. Anh chỉ có chân trong Xã Hội Những Người Tử Tế.
    Năm sau Miền Thơ Ấu được giải thưởng loại A của Hội nhà văn Việt
    Nam, tức là giải nhất, cho sách dành cho thiếu nhi, mặc dầu nhà xuất bản
    không đưa nó vào danh sách tác phẩm dự thi. Trong chuyện này Hà Mậu
    Nhai nghĩ như tôi, sách được in ra là tốt rồi, mong gì được giải. Việc trao
    giải thưởng năm ấy là sự kiện lớn. Đã nhiều năm chuyện xét và trao giải
    thưởng văn học bị xếp lại, vì chiến tranh, và vì văn chương là cái sự không
    ra gì, một thứ xướng ca vô loài, dưới mắt các nhà lãnh đạo. Chủ tịch Hội
    đồng xét giải là nhà văn Tô Hoài. Phùng Quán cũng được giải thưởng, loại
    B, với tiểu thuyết ba tập Tuổi Thơ Dữ Dội. Hai tên tội đồ, một Xét Lại
    Hiện Đại, một Nhân văn-Giai phẩm, chiếm hai giải thưởng nhất nhì trong
    một cuộc thi văn chương, là quá lố. Nhưng đã là năm 1988, hai năm sau
    khi Đảng cộng sản tuyên bố "đổi mới" và "cởi trói". Nếu là những năm
    trước, việc làm ngang bướng của Hà Mậu Nhai ắt bị trừng trị. Anh vẫn
    ngồi yên trên ghế giám đốc cho tới khi qua đời, ba năm sau.
    Giải thưởng này đối với tôi là bất ngờ, không kém gì việc nó được in ra.
    Khi mọi người cho tôi biết các báo đều đã đăng tin, tôi mới biết. Việc cuốn
    sách kể chuyện tầm phào về một làng quê khỉ ho cò gáy mà được giải, lại
    giải cao, là điều khó tin.
    Tô Hoài hiển nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc trao giải lần này. Uy
    tín của nhà văn già đã thắng tính bảo thủ của các cơ quan lãnh đạo tư tưởng
    của đảng cộng sản.
    Sau đó, đài phát thanh Sài Gòn đọc Miền Thơ Ấu trong chương trình "Đọc
    truyện đêm khuya", nhà xuất bản Kim Đồng ở Hà Nội tái bản một lần, rồi
    hai lần...
    So với bản thảo, cuốn Miền Thơ Ấu trong lần in đầu tiên được rút gọn còn
    một nửa theo yêu cầu của nhà xuất bản. Vì không có giấy. Giấy vào những
    năm ấy đắt khiếp đảm.
    Lần xuất bản sau ở hải ngoại không thiếu giấy nhưng lại thiếu những trang
    bản thảo bị bỏ ra nọ. Chúng nằm lại ở Việt Nam, cách tôi quá xa, không
    phải xa theo khoảng cách địa lý, mà bởi những khó khăn. Tôi cũng không
    tìm cách bổ khuyết. Cuốn sách đã có cuộc sống riêng của nó, diện mạo của

    nó. Chưa chắc gì một sự thay đổi sẽ làm cho nó đẹp hơn. Những gì bị bỏ ra
    ngoài trong lần xuất bản đầu tiên rồi sẽ được đặt vào một lần xuất bản
    khác, hoặc một chỗ khác.
    Câu chuyện về một chú bé trong cuộc gặp gỡ với quê hương của chú đã
    tìm được độc giả của nó. Thì ra quê hương của một người, nếu nói về nó
    bằng tình yêu chân thật, từ trái tim mình, thì cũng mang dáng dấp quê
    hương của bất kỳ ai khác, trong sự đồng điệu của tâm hồn.
    Tôi bao giờ cũng nhớ về tuổi thơ của mình với tất cả niềm thương yêu dịu
    dàng, bởi vì tuổi thơ của ai cũng vậy, nó chứa đựng những tình cảm đẹp
    nhất mà cuộc đời có thể cho ta, khi nắng bao giờ cũng lấp lánh và gió bao
    giờ cũng ngát hương. Nơi miền đất tuổi thơ, mỗi đám mây bay ngang cũng
    gợi ta hình dung ra những xứ xở xa xôi từ đó nó bay đến, mặt trăng rằm
    nào cũng bắt ta phải ngắm nhìn để tìm ra bóng dáng cây đa với chú Cuội cổ
    tích, thậm chí một con chuồn chuồn ngô cũng có phép màu làm cho ta biết
    bơi.
    Bạn đã bao giờ cho chuồn chuồn ngô cắn rốn chưa? Nếu bạn đã được một
    con chuồn chuồn ngô cắn rốn một lần để được sặc sụa một lần trong dòng
    sông quê hương thì bạn là người hạnh phúc đấy.
    Tôi đã đọc những dòng viết ấm áp và chân thành, và lạ thay, bao giờ cũng
    đầy nuối tiếc, về tuổi thơ trong sáng của mình nơi Lev Tolstoi, Maxim
    Gorky hay Paul Vaillant-Couturier.
    Chúa Giê-su Ki-ri-xi-tô dạy: "Hãy như con trẻ!"
    Tôi chưa được nghe lời nào thông thái hơn.
    Nếu tất cả những con người sống trên mặt đất này biết nâng niu gìn giữ
    trái tim con trẻ trong mình thì chúng ta đã không phải chứng kiến những gì
    xấu xa mà chúng ta phải chứng kiến: chiến tranh, nhà tù, và mọi sự hành
    hạ mà con người hàng ngày gây ra cho đồng loại.
    Bằng cuốn sách bé nhỏ này, tôi muốn chia sẻ với bạn đọc tình cảm trìu
    mến đối với những gì quý báu nhất trong cuộc đời, những gì bạn và tôi
    đều có nhưng chóng quên, ở một miền thơ ấu của mỗi chúng ta.
    VTH.
     

    I
    Tôi tỉnh giấc vì những tiếng động mạnh.
    Quờ tay sang bên không thấy mẹ, tôi mắt nhắm mắt mở lồm cồm chui ra
    ngoài màn. Khi đã hết chói mắt vì ánh điện sáng choang từ phòng ngoài hắt
    vào, tôi nhìn thấy mẹ tôi đứng tựa lưng vào đố cửa nối liền hai phòng. Mặt
    mẹ tôi như hóa đá. Hai tay khoanh trước ngực, bà im lặng nhìn ra phòng
    ngoài, nơi thấp thoáng nhiều người lạ mặt. Tôi bước xuống đất, mãi mới
    xỏ được chân vào guốc. Loạng choạng vì ngái ngủ, tôi nem nép đi tới bên
    mẹ. Tưởng tôi định bước ra phòng ngoài, mẹ tôi giữ tôi lại, hai tay đặt nặng
    lên vai tôi
    Bố tôi ngồi trên một chiếc ghế tựa được lôi khỏi bàn ăn, ở sát tường. Vẻ
    bất cần, ông bình thản hút thuốc, không buồn nhìn đến đám người lạ mặt
    nhâng nháo đi lại và lục tung mọi vật trong phòng. Tiếng động làm tôi thức
    giấc là tiếng sách bị quăng xuống sàn. Ngôi nhà gia đình chúng tôi thuê
    hồi đó có hai phòng thêm một ngăn nhỏ chứa đồ tạp nham và bếp. Phòng
    ngoài được dùng làm phòng ăn, cũng là phòng làm việc của bố tôi. Một tủ
    sách lớn chiếm gần trọn bức tường. Bên cạnh tủ sách là cái giường nhỏ,
    khi nào làm việc mệt, bố tôi có thể ngả lưng tại chỗ. ông có thói quen đọc
    sách khuya. Chắc bố tôi bị bỏ dở công việc vì những người khách này.
    Trên bàn, một cuốn sách dày còn để mở.
    Trong đám mật thám tới khám nhà tôi đêm đó có một người Pháp. Hắn
    ngồi ở bàn ăn, đối diện với bố tôi ở một khoảng cách xa, mặt dửng dưng
    như thể hắn không có ý muốn tham dự vào công việc của đám thuộc hạ.
    Nhìn thấy tôi, bố tôi mỉm cười. Cái nhìn trìu mến, vỗ về. Tôi hiểu, bố
    muốn tôi đừng sợ. Không có gì đâu, cái nhìn nói: chuyện thường ấy mà,
    con đã biết thừa là chuyện gì rồi, phải thế không nào?
    Tôi không sợ. Bọn mật thám tới khám nhà tôi không phải đây là lần đầu.
    Có lần chúng khám chán rồi bỏ đi, có lần chúng bắt bố tôi, mang đi. Ít lâu
    sau, chúng thả. Mật thám là loại người kỳ cục. Chúng chẳng giống ai,
    nhưng nếu để ý một chút là có thể nhận ra chúng, ngay giữa đám đông. Nét
    đặc biệt của chúng là không bao giờ đường hoàng, lúc nào cũng thậm thụt,
    cũng lấm lét, dường như chúng cố giấu đi cái vẻ ăn không ngồi rồi nghề
    nghiệp in dấu trên mặt chúng, trên hình hài chúng, cái dáng vẻ phân biệt

    chúng với những người bình thường, những người thế nào cũng phải bận
    bịu với một công việc lương thiện hoặc không lương thiện nào đó. Vào
    thời kỳ bấy giờ mật thám thường khoác áo các thầy ký nghèo sở tư, các
    tay thầu khoán long đong, các gia sư trẻ rạc người lê gót đi kiếm việc. Tùy
    theo vai phải đóng, những tên mật thám học mặc áo chùng thâm, quần
    trắng, đi ô, hoặc vận âu phục tàu, giày tây tàng, mũ dạ. Cái chung của
    chúng là cặp kính râm đen kịt. Tại sao chúng cứ phải kè kè cái cặp kính tố
    cáo chúng ấy, tôi không hiểu.
    Dạo ấy, trong nhà tôi thường xuyên có bè bạn của bố mẹ tôi đến ở. Có
    người chỉ đến vài ngày, có người ở lại hàng tháng, trở thành người trong
    nhà. Nhà chật, họ dọn dẹp bàn ghế lại, nằm la liệt trên sàn gạch hoa. Những
    con người hiếu động, vui vẻ này lúc nào cũng làm ầm ĩ ngôi nhà nhỏ bé
    của chúng tôi bằng những bữa ăn đông đúc, những cuộc tranh luận ầm ĩ, rất
    nhiều cãi vã, nhưng không có giận nhau. Đột nhiên, họ biến mất, hầu như
    tất cả. Ngôi nhà vắng hẳn. Mẹ tôi có vẻ lo âu. Đêm, nhiều lần tôi tỉnh giấc
    thấy mẹ tôi vẫn chưa ngủ, mắt chong chong.
    Tuần trước, bố tôi sai tôi vẽ một con cò trên bức tường quét vôi vàng ở
    đầu phố, chỗ ngã tư. Tôi nắn nót vẽ bằng gạch non, rất rõ. Con cò khá đẹp,
    nhưng đáng tiếc, nó là con cò mù, bởi vì nó không có mắt. Tôi chỉ hiểu tại
    sao bố tôi lại bảo tôi vẽ con cò mà lại dặn kỹ không được vẽ nó có mắt khi
    chiều qua bố tôi sai tôi vẽ nốt cho nó con mắt còn thiếu. Thì ra con mắt báo
    cho những người đến nhà tôi biết có nguy hiểm, họ không được tới nữa,
    cần phải rẽ ngay sang đường khác. Mối nguy hiểm đó là số lượng mật
    thám quanh quẩn bên nhà chúng tôi tăng lên đột ngột. Rất có thể chúng sẽ
    úp một mẻ tại đây. Nhưng chúng tới muộn và đã úp trượt.
    Tên mật thám Pháp ngồi thẳng đuỗn, hai tay thả dài trên bàn, mặt bất động,
    bên trong hai tròng mắt là hai hòn bi ve lạnh lẽo. Điếu thuốc lá kẹp nơi bàn
    tay phải bốc khói, tàn đã dài nhưng hắn không vẩy đi, cũng không đưa lên
    hút. Hình như sau cái vẻ thờ ơ bề ngoài ấy, thính giác của hắn đang làm
    việc căng thẳng. Hắn chăm chú theo dõi tiếng dội lại của viên gạch hoa mỗi
    lần tên mật thám thấp, bé, mắt hấp háy, dùng ba-toong gõ vào đấy.
    Những tên khác lặng lẽ tiến hành việc lục soát. Sách báo trong tủ bị rỡ tung
    tóe, quăng bừa xuống sàn. Chúng cẩn thận gõ vào từng vách tủ, hi vọng tìm
    thấy một ngăn bí mật. Một số lục soát quần áo của bố tôi. Chúng lộn tung

    các túi sờ nắn từng nẹp áo, nẹp quần. Mẹ tôi bĩu môi trong nụ cười khinh
    bỉ. Cái lũ bẩn thỉu này ra điều sạch sẽ, chúng chỉ đụng tới quần áo bằng ba
    ngón tay - ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa, hai ngón còn lại vểnh ra, nhất là
    ngón út cong lên với vẻ ghê tởm, dường như chúng sợ những quần áo mà
    chúng buộc phải đụng đến sẽ dây bẩn ra tay chúng.
    Sau phòng ngoài, bọn mật thám lần đến phòng trong. Tôi đọc thấy một
    thoáng lo ngại trong mắt mẹ tôi. Buổi chiều, có một nhà sư tới, ông đưa
    cho bố tôi một bức thư nhỏ xíu cuộn tròn như que tăm cài trong tấm khăn
    nâu quấn trên đầu. Bố tôi xem xong, cuộn bức thư lại như cũ và nhét vào
    kẽ nứt giữa đố cửa và tường. Thường bố tôi đốt thư đi sau khi xem xong,
    nhưng lần này ông để lại, chắc còn phải chuyển tiếp đi nơi khác. Tôi thấy
    tim mình như ngừng đập khi một tên đeo kính trắng lấy tay gõ gõ vào đố
    cửa. Nhưng ngón tay hắn đi lướt qua chỗ đó, chỗ giấu bức thư, rồi gõ tiếp
    trên những chỗ khác. Tôi thở phào, nhẹ nhõm. Bố tôi liếc mắt nhìn tôi,
    bình thản hút tiếp một hơi thuốc.
    Bọn mật thám làm việc trong im lặng. Chúng chỉ trao đổi với nhau đôi câu,
    khi thật cần thiết.
    Sau hai giờ lục soát từ trên nhà xuống bếp, chúng chẳng tìm được gì, ngoài
    mấy cuốn sách tiếng Pháp mà chúng thấy cần thu, coi như tang vật. Nhìn
    những cuốn sách của mình bị buộc lại, đặt lên bàn ăn, trước mặt tên mật
    thám Pháp, bố tôi nhún vai, nói bằng tiếng Pháp:
    - Hình như các ông lầm, đó là mấy cuốn sách tôi mua ở hiệu, đều là sách
    do các ông cho phép bán.
    - Rất có thể là như vậy. - tên mật thám Pháp trả lời, hắn cũng chẳng buồn
    nhìn đến những cuốn sách ấy - Những cuốn sách có bán ở hiệu trong thời
    kỳ Mặt Trận Bình dân đã trở thành không còn hợp pháp. Vào thời kỳ Mặt
    trận đó đã hết uy thế, ông hiểu chứ?
    - Không, tôi không hiểu. Nói chung, nền văn minh Pháp ở thuộc địa trước
    nay vẫn là một nền văn minh khó hiểu.
    Tên Pháp, đứng lên, hờ hững đỡ cái ba-toong từ hai tay tên thấp bé có cặp
    mắt hấp háy. Cuộc đối thoại ngắn ngủi đó tôi ghi lại theo lời mẹ, nhiều
    năm sau. Bà thường kể lại cho chúng tôi nghe những kỷ niệm vui buồn

    trong đời bà. Một tên mật thám trẻ nhất bọn, lực lưỡng, nước da đen sạm
    tiến về phía bố tôi, đôi mắt nhiều lòng trắng hắt ra những tia lạnh lẽo.
    - Xin lỗi!
    Tên Pháp nói, nhìn vào tay bố tôi. Bố tôi nhếch mép cười, đưa hai tay ra.
    Một tiếng cách khô khan, cái còng đã ngậm chặt hai cổ tay bố tôi.
    Tên mật thám Pháp bước ra cửa, những tên còn lại lục tục theo sau.
    Trong bóng đêm phố vắng, tôi nhìn thấy bố tôi bị du mạnh vào trong chiếc
    xe hòm màu đen đã mở máy chờ sẵn. Tên mật thám Pháp bước lên theo.
    Lũ thuộc hạ leo lên một xe khác. Tiếng động cơ nổ vang trong đêm. ánh
    đèn đỏ ở sau xe xa dần rồi tắt ngấm.
    Chị Tường, người trông chúng tôi, òa khóc. Mẹ tôi ôm lấy chị dìu vào
    trong nhà.
    1

    - Quân Luy-xi-phe! Chúng nó làm tanh bành trong bếp, có vại dưa mới
    muối cũng làm đổ cả ra kia, mợ xuống mà xem!
    Đáng lẽ phải nguyền rủa quân Luy-xi-phe đã bắt bố tôi mang đi, chị lại
    không nói ra điều đó, mà oán trách chúng làm lộn tùng phèo cái bếp mà chị
    mất bao công phu giữ gìn cho nó luôn gọn gàng ngăn nắp.
    Tội nghiệp, chị là người bạn thời thơ ấu của bố tôi, và chị thương bố tôi
    biết mấy. Chúng tôi gọi chị bằng chị theo thói đời bấy giờ, vì chị là người
    nhà nhưng ở vị trí người làm. Gần bằng tuổi bố tôi, mồ côi cả cha lẫn mẹ
    từ thuở còn thơ, chị được ông bà nội tôi đón về nuôi, chị lớn lên trong nhà
    ông bà tôi như một đứa con, nhưng không hiểu sao vẫn không được coi như
    con nuôi. Khi tôi ra đời, bố tôi đưa chị lên Hà Nội, từ đó chị trông nom
    chúng tôi chẳng khác gì người mẹ thứ hai.
    Mẹ tôi không khóc. Bà ngồi thần ra một lúc, như thể bà không tin việc vừa
    xảy ra là có thật, và giờ đây bà cần phải khẳng định với chính mình rằng
    việc đó đã xảy ra, rằng bố tôi đã bị bắt thật, rằng ông sẽ không được ngủ
    đêm nay ở nhà mà phải chịu thức trắng với những cực hình mà ông đã từng
    nếm trải tại Sở Liêm Phóng. Rồi bà tần ngần nhặt từng cuốn sách lên, vuốt
    lại cho khỏi quăn mép và xếp vào chỗ cũ. Chị Tường ngồi bên cạnh, vừa
    khóc thút thít vừa giúp mẹ tôi thu dọn lại phòng ngoài. Hai người thức cho
    tới khi trời sáng.

    Điều đáng ngạc nhiên là không hiểu vì lẽ gì bọn mật thám chỉ xem qua loa
    phòng ngủ chứ không khám kỹ như trong bếp và phòng khách. Vì thế các
    em tôi vẫn ngủ say. Chúng chẳng biết chút gì về việc xảy ra trong đêm.
    Sáng dậy, chúng vẫn nô đùa, vẫn vòi mẹ. Bố tôi thường vắng nhà, chúng đã
    quen, thậm chí cũng chẳng buồn hỏi bố đâu. Tôi khác, tôi có một trí nhớ
    đáng nguyền rủa. Những gì tôi chứng kiến tôi nhớ rất lâu, đến từng chi
    tiết. Có một trí nhớ như vậy thật chẳng hay ho gì.
    Nó là một cái vạ.
     

    II
    Tin tức từ trong tù báo ra cho biết: bố tôi sẽ bị đi an trí.
    Đó là số phận chung của những người bị tình nghi có dính líu tới những
    hoạt động chống lại Nhà nước Bảo hộ, nhưng là những người mà Nhà
    nước Bảo hộ không có đủ chứng cứ để có thể đem ra xử và kết án. Cách
    làm này thực dân Pháp học được của phát xít Đức. Trại an trí hay là "căng"
    (camp), theo cách gọi thời ấy, chẳng qua chỉ là một cái tên khác của trại tập
    trung (camp de concentration). Có nhiều "căng" cho tù chính trị, nhưng bố
    tôi sẽ bị đi "căng" nào thì chưa biết.
    Tạm thời, ông bị giam tại Hỏa Lò.
    Có nhiều người Hà Nội chính gốc không biết lai lịch của Hỏa Lò. Phần
    nhiều chỉ biết nó là nhà tù, nó ở đâu, và chỉ thế thôi. Tôi biết Hỏa Lò quá
    sớm. Nó để lại cho tôi một ấn tượng nặng nề.
    Tên thật của Hỏa Lò là Lao Trung ương (Mai son Centrale). Cái công trình
    bằng đá hộc có bốn cạnh không đều này nằm lù lù giữa thành phố, bốn góc
    có tháp canh lính gác ngày đêm. Nằm sát bên nó là Tha Đại Hình, cách một
    con đường nhỏ. Tên Hỏa Lò là tên phố, đâu xưa kia ở phố này có nhiều
    cửa hàng bán Hỏa Lò đất. Nhưng cái tên phố được dành cho nhà tù lại gợi
    nghĩ đến một cái gì đó thiêu đốt, hành hạ bằng lửa, bằng sức nóng của thứ
    bếp rừng rực than hồng. Những người đã từng ở bên trong Hỏa Lò nói
    rằng bốn bức tường đá giăng quanh bị mặt trời hun nóng ban ngày, ban
    đêm tiếp tục nhả lửa vào các xà lim cá nhân tối tăm và ngột ngạt. Về mùa
    đông, Hỏa Lò tắt ngấm khí đá lạnh thấu xương. Nghe nói Hỏa Lò được
    xây dựng cùng thời với Nhà Bưu Điện, Đồn Thủy và các trại lính trong
    khu thành cổ. Nghĩa là khi có tín hiệu báo động, lính thủy và lính bộ của
    thực dân Pháp sẽ từ các trại lính xông ra đàn áp các cuộc nổi dậy, bắt được
    ai thì bỏ vào Hỏa Lò.
    Thật là tiện.
    Để được thăm bố tôi, mẹ tôi và tôi phải dậy sớm chầu chực ở chân tường
    bên phải cửa vào, sát đường Hàng Bông Thợ Nhuộm. Đến giờ vào thăm tù
    sẽ có một thầy ký ra gọi tên. Thầy ký này có vẻ mặt và dáng dấp trịnh trọng
    không lẫn vào đâu được, đến nay tôi còn nhớ rõ. Gầy và xanh, vận com-lê


    trắng, nếp là thẳng tắp, đeo kính trắng, đi đứng khụng khiệng, ông ta cao
    giọng gọi tên từng người được vào thăm tù theo cách riêng của ông ta:
    - Le Đin Khoi!
    - Tran Van Bik!
    - Nguyen Thi Mai!
    Cái lối gọi lơ lớ theo tiếng Pháp, không có dấu, của thầy ký làm cho nhiều
    người lầm lẫn. Đám đông lộn xộn hỏi nhau, quát gọi í ới, rồi bỗng ai đó
    chợt nhận ra người ta gọi đích tên mình chứ không phải người khác, vội tất
    tưởi chạy về phía cổng.
    Để vào tới chỗ thăm tù, chúng tôi phải qua ba lần cửa. Không kể lần cửa
    ngoài cùng, bên dưới vòng cung đắp nổi hai chữ MAISON CENTRALE,
    còn có một cửa sắt thưa, rồi một cửa sắt nữa, nhỏ hơn, dẫn vào một hành
    lang quét vôi xám. Rẽ sang trái, chúng tôi rơi vào một căn phòng tối mờ,
    ban ngày cũng phải thắp điện. Những người đi thăm tù ngồi đợi ngao ngán
    trên những ghế dài.
    Chỗ gặp là một tấm lưới thép chạy dài ngăn căn phòng thành một phòng
    nữa nhỏ hơn. Bên tấm lưới ấy, những người nhà pha (người tù) nói chuyện
    chõ ra với người nhà. Những mẩu đối thoại ngắn ngủi, tiếng gắt gỏng của
    những viên giám thị, tiếng đàn bà khóc nức nở, tất cả làm thành một tiếng
    ồn không dứt. Nền xi măng giội lên trần cao một lần nữa tiếng chân người
    sàn sạt, tiếng thì thào tiếng ho bị bịt lại của những người đang nóng ruột
    chờ tới lượt mình. Tất cả những cái đó đè nặng lên tôi. Tôi chỉ muốn mau
    mau thoát ra khỏi căn phòng này để tới với khoảng không rực nắng và
    thoáng đãng ngoài kia. Thậm chí tôi quên cả nỗi nhớ thèm được gặp bố,
    chỉ mong sao cho cuộc đi thăm này sớm kết thúc. Bầu không khí ngột ngạt
    làm cho đầu tôi váng vất.
    Sau nửa giờ chờ đợi, tôi nghe thấy một giọng hách dịch và lạnh tanh kêu
    tên bố tôi.
    Mẹ tôi đứng bật dậy, lật đật chạy tới tấm lưới thép, tôi chạy sau. Từ trong
    cửa ngách, bố tôi xuất hiện, mặt hốc hác, râu tua tủa nhiều ngày không
    cạo. Nhưng bố tôi cười. Trong những phút hiểm nghèo, những lúc khó
    khăn bao giờ bố tôi cũng cười, nụ cười làm cho người nhìn thấy yên lòng.
    Tôi đứng bên mẹ, ngẩng đầu lên nhìn bố. Nói chuyện với mẹ, bố thỉnh

    thoảng lại nháy mắt với tôi, có ý nói tôi đừng buồn, bố vẫn biết có tôi đứng
    đấy, nhưng vì có chuyện quan trọng phải nói với mẹ đã, cho nên bố chưa
    có thời giờ nói với tôi. Tôi hiểu, bố mẹ tôi dành những phút gặp gỡ hiếm
    hoi này để thông tin cho nhau những điều mà bên ngoài hoặc bên trong nhà
    tù cần phải biết, những chuyện khác chỉ là bề ngoài, để che giấu câu
    chuyện chính.
    Viên giám thị già, tay chắp sau lưng, đầu hơi cúi, đi đi lại lại dọc theo tấm
    lưới thép. Bên trong, sát chỗ bố tôi đứng, một viên giám thị khác, mập lùn,
    vẻ mặt ngán ngẩm, ngồi trên ghế tựa, luôn đổi chân vắt lên nhau và ngáp
    vặt. Chung quanh, những người đến lượt gặp người nhà nói chuyện nhao
    nhao cùng một lúc. Phần lớn tù được ra gặp người nhà là thường phạm. Có
    thể phân biệt được hai loại tù: chính trị phạm có dáng trí thức, phong thái
    đĩnh đạc. Thường phạm không thế - trong họ dấu ấn nguồn gốc bình dân
    rất rõ. Ở góc xa có một chính trị phạm đang nói chuyện với mẹ. Tôi nhìn
    thấy bà cụ tóc bạc phơ này từ khi đứng đợi ở bên ngoài, rất sớm.
    Rồi cũng đến lúc mẹ tôi nhấc tôi lên cho tôi nói chuyện với bố. Tôi nhìn
    thấy bố rất gần. Mặt hai bố con gần chạm nhau, chỉ cách có tấm lưới.
    Bố tôi gầy quá, bây giờ tôi càng thấy rõ. Lưỡng quyền nhô cao, mắt trũng
    sâu, đôi môi khô, nứt nẻ.
    Chắc chúng nó đã tra điện bố tôi. Và ông đã rứt đứt cúc áo cắn chặt giữa
    hai hàm răng để khỏi cắn vào lưỡi. Những câu chuyện về mật thám tra điện
    thế nào tôi đã được nghe.
    Chỉ cần nghiến chặt răng chịu đựng cho tới khi ngất đi là xong, những
    người từng bị tra điện nói thế.
    - Mẹ sẽ vất vả lắm đấy, con hiểu không? - bố tôi nói, giọng xúc động.
    - Con hiểu ạ.
    - Con lên bảy rồi, con đã lớn.
    Bố định nói tiếp điều gì, rồi lại ngập ngừng.
    - Con sẽ chăm học. - tôi vội nói cho bố yên lòng.
    - Ừ, con phải chăm học. Nếu con học dốt, bố sẽ buồn.
    - Con sẽ không chành chọe với các em.

    - Phải chiều các em, bởi vì chúng nó bé hơn con.
    - Vâng.
    Viên giám thị mập lùn đứng lên, ngáp một cái dài. Rút trong túi áo cái đồng
    hồ quả quít mạ bạc bóng loáng, ông ta bật nắp, nheo mắt lại để đọc giờ, rồi
    đậy nắp lại đánh tách:
    - Hết giờ!
    Cánh cửa ghi-sê được mở ra cho mẹ tôi chuyển quà vào. Mẹ tôi đột ngột
    ôm chặt tôi, đút vội tôi qua ghi-sê. Tôi chỉ giãy mạnh chân một cái là đã
    nằm gọn trong vòng tay bố. Ông ôm ghì lấy tôi, hôn khắp mặt.
    - Ê, bỏ ra, không được phép!
    Bố tôi hôn tôi lần cuối, và đút tôi trở lại. Viên giám thị già giằng bố tôi ra
    xa ghi-sê. Đôi lông mày rậm như hai con sâu róm của ông ta cau lại.
    - Con về ở với cô Gái phải ngoan, con nhé!
    Bố tôi dặn với. Đó là điều bố ngần ngừ mãi mới nói được với tôi.
    Chắc chuyện này bố đã bàn với mẹ, nhưng tôi không nghe thấy. Mà cũng
    có thể ông chỉ nói quyết định của mình, đến lúc ấy mới nói ra. Không phải
    quyết định nào ông cũng bàn với vợ, tính ông thế.
    Quyết định của bố làm tôi choáng váng. Mẹ tôi ôm chặt tôi, mắt đỏ hoe.
    Bố tôi đi về phía cửa nách. Ông ngoảnh lại mất lần, kiễng chân lên để nhìn
    chúng tôi cho rõ hơn. Ở cửa, ông dừng lại, đưa tay lên vẫy, gật đầu và mỉm
    cười.
    Một giọng hách dịch vang lên gọi tên một người nào đó.
    - Con về ở với cô Gái phải ngoan, con nhé?
    Trong đầu tôi văng vẳng câu nói của bố.
    Ngoài trời, nắng lóa mắt. Tôi bước theo mẹ, nhưng không còn thấy sung
    sướng được bước ra khỏi căn phòng tối mờ và ngột ngạt của Hỏa Lò như ít
    phút trước tôi còn ham muốn.
     

    III
    Cô Gái là chị cả của bố tôi.
    Ở trong họ tôi có lối xưng hô như vậy, chị của bố được gọi bằng cô.
    Đó là một người đàn bà dường như chưa bao giờ trẻ; đối với tôi, bà vĩnh
    viễn già kể từ khi tôi gặp. Vóc người cao lớn, xương xẩu, dáng đi thẳng
    đuột, bà có bộ mặt quàu quạu, cái nhìn chê bai và soi mói, giọng nói lạnh
    lùng. Bà ở nhà quê, thỉnh thoảng mới lên thăm các em trai ở Hà Nội. Một
    hai năm một lần, bà xuất hiện ở nhà tôi với thúng quà đội trên đầu, bao giờ
    cũng vẫn những thứ ấy: bột sắn dây, trứng cáy, rượu bách nhật làm bằng
    nếp cẩm, gạo tám thơm, bánh quế, bánh đa khoai... Bà không mua một thứ
    gì trong những món quà cố hữu ấy, tất cả do bà làm lấy bằng sản vật thu
    hoạch từ ruộng nhà vườn nhà, là những thứ mà các em của bà đã quen
    hương quen vị từ thuở còn thơ. Những ông em đứng tuổi nem nép trước bà
    chị xét nét, các bà vợ ra sức chiều chuộng bà chị chồng lạnh lùng không
    bao giờ bỏ lỡ dịp chứng tỏ cái quyền uy gia trưởng mà bà mang giữ.
    Lũ cháu chúng tôi thích quà của bà, nhưng không yêu bà. Mà bà cũng
    chẳng quan tâm đến chuyện chúng tôi có yêu bà hay không. Đối với bà,
    con của các em là cháu bà, thế thôi. Một khái niệm không hàm cảm xúc. Ở
    quê lên bà vẫy chúng tôi lại, gọi to tên từng đứa như tự nhắc mình cho khỏi
    quên, lẩm bẩm học những ...
     
    Gửi ý kiến

    Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THPT TRẦN QUÝ CÁP - TP. HỘI AN- QUẢNG NAM !